Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống tài chính quốc gia, các tổ chức tín dụng (TCTD) giữ vai trò then chốt trong việc thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để cung ứng cho nền kinh tế. Đối với các ngân hàng thương mại (NHTM), hoạt động kinh doanh tiền tệ được tiến hành dựa trên nguồn vốn tự có và nguồn vốn huy động nhằm phục vụ hoạt động cấp tín dụng, đầu tư và cung cấp các dịch vụ thanh toán. Trong chu trình vận hành, tình trạng mất cân đối thanh khoản tạm thời thường xuyên xuất hiện khi một số ngân hàng lâm vào trạng thái thiếu hụt nguồn vốn khả dụng, trong khi các định chế khác lại dư thừa.
Mặc dù Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã tạo cơ sở pháp lý cho phép NHTM được vay vốn từ các TCTD khác, các tổ chức tài chính trong và ngoài nước cũng như tiếp cận nguồn vốn tái cấp vốn từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động này vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập. Thị trường tiền tệ còn tồn tại những khoảng trống pháp lý, thiếu tính minh bạch, tình trạng sở hữu chéo phức tạp làm gia tăng rủi ro mang tính hệ thống. Xuất phát từ yêu cầu hoàn thiện khung pháp luật nhằm bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng và thúc đẩy hiệu quả kinh doanh thực tế, tác giả Nguyễn Thị Mai Trang (sinh viên lớp K20BCQ105, Trường Đại học Luật Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Thị Giang Thu) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài: "Thực trạng pháp luật về huy động vốn của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam - Thực tiễn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội".
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là phân tích các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn của các TCTD dưới góc độ lý luận và thực tiễn áp dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội (MBBank), từ đó chỉ ra những vướng mắc, chồng chéo của hệ thống pháp luật hiện hành và đề xuất giải pháp hoàn thiện.
Nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu của đề tài được cấu trúc theo 4 nội dung đối tượng nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về huy động vốn và pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn của các TCTD.
- Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành về hoạt động huy động vốn của TCTD tại Việt Nam.
- Khảo sát và phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội.
- Đề xuất các quan điểm, định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về huy động vốn của TCTD và nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại MBBank.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Không gian: Các quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động huy động vốn của hệ thống TCTD và thực tiễn triển khai nghiệp vụ tại MBBank.
- Thời gian: Khảo sát thực trạng quy định pháp luật hiện hành (tính đến năm 2023) và số liệu kết quả hoạt động huy động vốn của MBBank giai đoạn 2019 đến 9 tháng đầu năm 2023.
Cơ sở lý luận, pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở pháp lý và khung lý luận, khóa luận căn cứ vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và các cơ quan quản lý chuyên ngành, bao gồm:
- Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017;
- Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010;
- Luật Hợp tác xã năm 2012;
- Luật Chứng khoán và các văn bản quy định chi tiết thi hành;
- Nghị định số 22/2006/NĐ-CP của Chính phủ;
- Hệ thống các Thông tư chuyên ngành của Thống đốc NHNN: Thông tư số 17/2011/TT-NHNN (cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá), Thông tư số 21/2012/TT-NHNN và Thông tư số 01/2013/TT-NHNN (quy định hoạt động cho vay, gửi tiền giữa các TCTD), Thông tư số 04/2015/TT-NHNN (về quỹ tín dụng nhân dân), Thông tư số 24/2019/TT-NHNN (quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng), Thông tư số 01/2021/TT-NHNN (quy định phát hành giấy tờ có giá trong nước của TCTD), Thông tư số 18/2021/TT-NHNN (hoạt động tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng).
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý và kinh tế:
- Phương pháp phân tích: Sử dụng để làm rõ từng quy phạm pháp luật điều chỉnh các hình thức huy động vốn, đồng thời phân tích cơ cấu, thực trạng huy động vốn tại MBBank.
- Phương pháp tổng hợp: Đánh giá khái quát thực trạng, rút ra các kết luận có tính hệ thống cho từng chương và xây dựng các nhóm giải pháp kiến nghị.
- Phương pháp khảo sát và khái quát hóa: Thu thập, xử lý và khái quát hóa các chỉ tiêu tài chính, dữ liệu hoạt động huy động vốn thực tế từ các báo cáo tài chính của MBBank.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu quy định của các văn bản pháp luật cũ đã hết hiệu lực (như Luật Các TCTD năm 1997, Thông tư 21/2012/TT-NHNN) với các quy định pháp luật hiện hành nhằm chỉ ra sự thay đổi và những khoảng trống cần tiếp tục sửa đổi.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm: Báo cáo tài chính hợp nhất kiểm toán của MBBank các năm 2019, 2020, 2021, 2022 và báo cáo tài chính 9 tháng đầu năm 2023; các công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án đã công bố của Đại học Luật Hà Nội; các ấn phẩm và bài viết trên Tạp chí Ngân hàng, Tạp chí Tài chính.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát về hoạt động huy động vốn và các hình thức huy động vốn của các tổ chức tín dụng theo pháp luật Việt Nam
Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về nghiệp vụ huy động vốn của TCTD. Về mặt bản chất pháp lý, hoạt động huy động vốn là việc TCTD đi vay tiền từ các chủ sở hữu nguồn tiền trong xã hội (cá nhân, tổ chức kinh tế) để tạo lập nguồn vốn kinh doanh, kèm theo nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi khách hàng có yêu cầu rút vốn. Pháp luật hiện hành xác lập 4 hình thức huy động vốn chủ yếu của TCTD:
- Huy động vốn bằng nhận tiền gửi (tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu);
- Huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá (trái phiếu ngân hàng, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi);
- Huy động vốn bằng việc vay vốn từ các TCTD khác trên thị trường liên ngân hàng (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn và vay TCTD nước ngoài);
- Huy động vốn thông qua vay vốn từ Ngân hàng Nhà nước (hình thức tái cấp vốn nhằm xử lý thiếu hụt thanh khoản tạm thời).
Khóa luận phân tích vai trò của huy động vốn trên hai bình diện: đối với bản thân TCTD (là cơ sở quyết định quy mô kinh doanh, đảm bảo khả năng thanh toán, uy tín và sức cạnh tranh) và đối với nền kinh tế (kênh điều hòa vốn đầu tư, công cụ thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, kích thích tiết kiệm và giảm tỷ lệ thanh toán tiền mặt). Tác giả làm rõ các nhân tố tác động đến hoạt động huy động vốn bao gồm nhân tố khách quan (hành lang pháp lý, chính sách tiền tệ, chính sách đầu tư, môi trường kinh tế vĩ mô, thói quen tiêu dùng) và nhân tố chủ quan (hình thức huy động, hình thức cho vay, công nghệ thanh toán, năng lực cán bộ, mạng lưới và chính sách lãi suất).
Về chủ thể, Luật Các TCTD năm 2010 phân chia TCTD thành 4 nhóm với phạm vi quyền huy động vốn khác nhau:
- TCTD là ngân hàng: Bao gồm NHTM (nhà nước, cổ phần, liên doanh, 100% vốn nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài với thời hạn hoạt động tối đa 20 năm), ngân hàng chính sách và ngân hàng hợp tác xã. Trong đó, NHTM là chủ thể duy nhất được thực hiện toàn bộ các nghiệp vụ huy động vốn vì mục tiêu lợi nhuận.
- TCTD phi ngân hàng: Gồm công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính; không được nhận tiền gửi của cá nhân và không cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng.
- Tổ chức tài chính vi mô: Chỉ được nhận tiền gửi tiết kiệm bắt buộc, tiền gửi bằng đồng Việt Nam của khách hàng tài chính vi mô và vay vốn TCTD; không được phát hành giấy tờ có giá và không được vay vốn từ NHNN.
- Quỹ tín dụng nhân dân: Tổ chức theo mô hình hợp tác xã nhằm tương trợ thành viên phát triển sản xuất kinh doanh và đời sống.
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội
Chương 2 đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và khảo sát thực tiễn tại MBBank, chỉ ra các vướng mắc pháp lý và kết quả kinh doanh thực tế.
1. Những bất cập trong hệ thống quy định pháp luật:
- Về quản lý nhà nước: Các quy định phân bố tản mạn ở nhiều văn bản, một số cơ chế can thiệp thị trường chưa có tiêu chí lượng hóa rõ ràng.
- Về chủ thể TCTD: Điều 128 Luật Các TCTD năm 2010 giới hạn mức cấp tín dụng cho một khách hàng không quá 15% vốn chủ sở hữu của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trái với cơ chế tính theo vốn ngân hàng mẹ tại Nghị định 22/2006/NĐ-CP trước đây, gây xáo trộn cho khối này. Khoản 2 Điều 90 giới hạn TCTD không được kinh doanh ngoài phạm vi giấy phép, buộc phải lập công ty con khi kinh doanh vàng, thẻ hay ngoại hối. Các công ty tài chính bị cấm nhận tiền gửi cá nhân, hoạt động chủ yếu phụ thuộc vào vốn nội bộ tập đoàn. Hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (toàn quốc có gần 1.200 quỹ tại 56/63 tỉnh thành, 2.831 xã phường với gần 2,1 triệu thành viên) còn yếu về quản trị, để xảy ra các sai phạm quản lý sổ tiết kiệm trắng tại Bắc Giang, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hậu Giang và đối mặt rủi ro thanh khoản do tỷ lệ cho vay quá cao.
- Về các hình thức huy động:
- Nhận tiền gửi: Cơ chế trần lãi suất của NHNN khi thị trường biến động làm giảm tính linh hoạt của Điều 91; luật chưa điều chỉnh các loại tài khoản tiền gửi không kỳ hạn hiện đại như NOW, ATS.
- Phát hành giấy tờ có giá: Thông tư số 01/2021/TT-NHNN đặt ra thủ tục phê duyệt hành chính rườm rà. Đặc biệt, Điều 4 Thông tư này tiếp cận quan hệ phát hành giấy tờ có giá dưới góc độ giao dịch "mua bán" thay vì công nhận đúng bản chất pháp lý là quan hệ "vay nợ".
- Vay vốn giữa các TCTD: Thông tư số 21/2012/TT-NHNN cấm gửi tiền liên ngân hàng và yêu cầu tài sản bảo đảm đã loại bỏ nhiều ngân hàng nhỏ khỏi thị trường liên ngân hàng, dẫn đến tình trạng lách luật huy động dân cư. Sau đó, Thông tư số 01/2013/TT-NHNN đã nới lỏng cho phép gửi tiền kỳ hạn tối đa 3 tháng để hỗ trợ thanh khoản.
- Tái cấp vốn từ NHNN: Điều 12 Thông tư số 24/2019/TT-NHNN đặt ra các điều kiện khắt khe về hồ sơ và danh mục giấy tờ có giá, khiến các TCTD quy mô nhỏ khó tiếp cận dòng vốn tái cấp vốn khi gặp khó khăn.
2. Thực tiễn áp dụng tại Ngân hàng TMCP Quân Đội (MBBank):
MBBank thành lập ngày 04/11/1994 với số vốn ban đầu 20 tỷ đồng và 25 nhân viên. Đến năm 2019, vốn điều lệ đạt gần 8.000 tỷ đồng; mạng lưới phát triển gồm 138 chi nhánh, hơn 190 điểm giao dịch tại 48 tỉnh thành, hơn 3.000 cán bộ nhân viên, có văn phòng đại diện tại Liên bang Nga và 2 chi nhánh tại Lào, Campuchia.
| Chỉ tiêu (Đơn vị: Tỷ đồng) |
Năm 2019 |
Năm 2020 |
Năm 2021 |
Năm 2022 |
9T/2023 |
Tăng trưởng bình quân 2019-2022 |
Tăng trưởng 9T/2023 so với 2022 |
| Các khoản nợ Chính phủ và NHNN |
115 |
2.674 |
2.866 |
1.848 |
1.608 |
2,6% |
-13% |
| Tiền gửi và vay các TCTD khác |
50.314 |
50.516 |
59.560 |
65.117 |
75.860 |
9% |
17% |
| - Tiền gửi của các TCTD khác |
29.550 |
24.924 |
13.870 |
33.059 |
41.607 |
4% |
26% |
| + Tiền gửi thanh toán |
6.073 |
6.046 |
192 |
1.905 |
8.247 |
-32% |
333% |
| + Tiền gửi có kỳ hạn |
23.477 |
24.378 |
13.678 |
31.154 |
33.436 |
10% |
7% |
| - Vay các TCTD khác |
20.764 |
25.592 |
45.690 |
32.057 |
34.261 |
16% |
7% |
| Tiền gửi của khách hàng |
272.710 |
310.960 |
384.693 |
443.606 |
479.733 |
18% |
8% |
| Phát hành giấy tờ có giá |
26.289 |
50.924 |
66.887 |
96.578 |
116.032 |
54% |
20% |
| TỔNG CỘNG |
349.329 |
414.774 |
514.007 |
605.332 |
671.808 |
20%/năm |
11% |
Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất của MBBank (Tổng hợp từ Bảng 1 của khóa luận)
Giai đoạn 2019-2022, tổng vốn huy động của MBBank tăng trưởng bình quân 20%/năm (từ 349.329 tỷ đồng lên 605.332 tỷ đồng). Đến 9 tháng đầu năm 2023 đạt 671.808 tỷ đồng (+11% so với cuối 2022). Trong cơ cấu nguồn vốn, tiền gửi khách hàng chiếm tỷ trọng cao nhất (>70%), phát hành giấy tờ có giá chiếm 15-17%. MBBank đã đa dạng hóa sản phẩm (tiền gửi thanh toán thưởng lãi suất, tiền gửi rút gốc từng lần, tiết kiệm online), liên kết với các đối tác lớn (Viettel, VNPost, Prudential), triển khai hệ thống Contact Center - MB 247. Đến cuối năm 2022, số lượng khách hàng cá nhân và hộ gia đình được khởi tạo trên hệ thống đạt 28.904 khách hàng (trong đó khoảng 17.500 khách hàng giao dịch thường xuyên).
Tuy nhiên, MBBank vẫn bộc lộ một số hạn chế:
- Cơ cấu kỳ hạn chưa hợp lý: Nguồn vốn huy động chủ yếu là ngắn hạn (kỳ hạn từ 12 tháng trở xuống chiếm tỷ trọng lớn), nguồn vốn trung và dài hạn chiếm tỷ trọng nhỏ, dẫn đến hạn chế khả năng tài trợ cho các dự án dài hạn trên 5 năm (như các dự án thủy điện, năng lượng mặt trời).
- Cơ cấu đồng tiền: Chủ yếu huy động bằng nội tệ, nguồn huy động ngoại tệ đôi khi không đáp ứng kịp nhu cầu đột xuất về du học hoặc xuất khẩu lao động.
- Thiếu quy định minh bạch về căn cứ điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn và lãi suất qua đêm của NHNN đối với MBBank khi văn bản hiện hành chưa lượng hóa cụ thể các tiêu chí can thiệp.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về huy động vốn của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam và nâng cao hiệu quả thực thi tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội
Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả áp dụng thực tế:
1. Định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
- Rà soát, đồng bộ hóa các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý nhà nước về tiền tệ và ngân hàng.
- Sửa đổi quy định tại Điều 128 Luật Các TCTD năm 2010 về giới hạn cấp tín dụng của chi nhánh ngân hàng nước ngoài; xem xét mở rộng phạm vi kinh doanh trực tiếp của NHTM đối với một số dịch vụ tài chính phái sinh.
- Đa dạng hóa khung pháp lý về các sản phẩm tiền gửi, bổ sung quy chế pháp lý cho các tài khoản thanh toán hiện đại (NOW, ATS).
- Cải cách thủ tục phát hành giấy tờ có giá tại Thông tư số 01/2021/TT-NHNN: Cắt giảm thủ tục phê duyệt hành chính không cần thiết; điều chỉnh quy định tại Điều 4 để khẳng định bản chất quan hệ phát hành giấy tờ có giá là quan hệ vay nợ tín dụng.
- Hoàn thiện cơ chế giao dịch liên ngân hàng tại Thông tư số 21/2012/TT-NHNN và Thông tư số 01/2013/TT-NHNN nhằm hỗ trợ thanh khoản bình đẳng cho các TCTD nhỏ.
- Minh bạch hóa các tiêu chuẩn, tiêu chí định lượng để NHNN quyết định tái cấp vốn theo Thông tư số 24/2019/TT-NHNN.
- Tăng cường kiểm soát nội bộ, siết chặt quy trình quản lý sổ tiết kiệm trắng và quản trị rủi ro thanh khoản tại hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân.
2. Giải pháp đối với MBBank:
- Cơ cấu lại kỳ hạn vốn huy động: Xây dựng các chính sách lãi suất và sản phẩm hấp dẫn nhằm gia tăng tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn, tạo nguồn lực tài trợ cho các dự án phát triển năng lượng, cơ sở hạ tầng.
- Tăng cường các biện pháp thu hút nguồn vốn ngoại tệ đáp ứng nhu cầu giao dịch quốc tế, du học và xuất khẩu lao động.
- Tiếp tục tối ưu hóa quy trình dịch vụ, nâng cấp hạ tầng ngân hàng số và mở rộng chức năng chăm sóc khách hàng qua kênh Contact Center - MB 247.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên số liệu và phân tích pháp lý:
- Làm rõ bản chất pháp lý và hệ thống hóa 4 hình thức huy động vốn cùng các nhóm chủ thể theo Luật Các TCTD năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Phân tích bức tranh thực tiễn huy động vốn tại MBBank giai đoạn 2019 - 9T/2023 với dữ liệu tài chính cụ thể: tổng vốn huy động tăng từ 349.329 tỷ đồng lên 671.808 tỷ đồng, trong đó tiền gửi khách hàng chiếm trên 70% và phát hành giấy tờ có giá đạt 116.032 tỷ đồng vào tháng 9/2023; chỉ ra các nút thắt về mất cân đối kỳ hạn và thiếu hụt nguồn ngoại tệ.
- Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Tác giả chỉ ra các công trình trước đây (Nguyễn Thị Vân 2006, Phan Thị Huyền Trang 2004, Ma Thị Thắm 2011, Phạm Thị Trang 2005, Phạm Thị Bản 2008, Hoàng Tuyết Mai 2010, Ngô Quốc Kỳ 2003, Nguyễn Văn Tuyển 2004, Đào Ánh Tuyết 2013) chủ yếu nghiên cứu trên nền tảng Luật Các TCTD năm 1997 đã hết hiệu lực hoặc chưa đi sâu vào quan hệ huy động vốn giữa TCTD với TCTD khác và NHNN. Khóa luận này đã cập nhật hệ thống văn bản pháp luật mới (gồm các Thông tư giai đoạn 2019-2021 của NHNN) và kết hợp phân tích thực chứng tại MBBank giai đoạn 2019-2023.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Khóa luận chủ yếu tiếp cận nghiên cứu quy định pháp luật thực định và khảo sát số liệu tại một NHTM cổ phần cụ thể là MBBank dựa trên số liệu thứ cấp đến tháng 9/2023. Do đó, nghiên cứu chưa khảo sát toàn diện thực trạng áp dụng pháp luật huy động vốn tại các khối ngân hàng có vốn nhà nước, ngân hàng liên doanh hoặc các định chế tài chính vi mô trên quy mô toàn quốc.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá việc thực thi các văn bản luật mới sửa đổi điều chỉnh hệ thống TCTD; mở rộng phạm vi so sánh thực tiễn huy động vốn giữa các nhóm loại hình TCTD khác nhau tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học, Luật Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng và các nhà nghiên cứu quan tâm đến pháp luật ngân hàng.
Các nội dung có giá trị tham khảo nổi bật bao gồm:
- Khung phân tích lý luận về 4 hình thức huy động vốn của TCTD và sự phân định quyền huy động vốn theo loại hình chủ thể.
- Hệ thống dữ liệu thực tế về cơ cấu và tốc độ tăng trưởng vốn huy động của MBBank giai đoạn 2019 - 9T/2023.
- Các luận điểm phản biện khoa học đối với bất cập trong Thông tư số 01/2021/TT-NHNN (về bản chất pháp lý của phát hành giấy tờ có giá) và Thông tư số 24/2019/TT-NHNN (về điều kiện tái cấp vốn).
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận xác định có bao nhiêu hình thức huy động vốn của các TCTD theo pháp luật Việt Nam?
Khóa luận xác định 4 hình thức: (1) Nhận tiền gửi; (2) Phát hành giấy tờ có giá (trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi); (3) Vay vốn của các TCTD khác; (4) Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước (tái cấp vốn).
2. Tác giả chỉ ra bất cập lớn nhất về mặt bản chất pháp lý trong Thông tư số 01/2021/TT-NHNN là gì?
Điều 4 Thông tư số 01/2021/TT-NHNN quy định giao dịch phát hành giấy tờ có giá dưới góc độ quan hệ "mua bán" giấy tờ có giá, trong khi bản chất pháp lý thực tế của quan hệ này là giao dịch vay nợ giữa TCTD (bên đi vay) và nhà đầu tư (bên cho vay).
3. Tốc độ tăng trưởng và quy mô huy động vốn của MBBank giai đoạn 2019 - 9T/2023 đạt mức nào?
Tổng nguồn vốn huy động của MBBank tăng trưởng bình quân 20%/năm trong giai đoạn 2019-2022 (từ 349.329 tỷ đồng lên 605.332 tỷ đồng). Tính đến hết 9 tháng đầu năm 2023, tổng vốn huy động đạt 671.808 tỷ đồng, tăng 11% so với cuối năm 2022.
4. Khóa luận chỉ ra những hạn chế chính nào trong cơ cấu nguồn vốn huy động tại MBBank?
MBBank gặp 3 hạn chế chính: Cơ cấu vốn lệch nhiều về ngắn hạn (kỳ hạn từ 12 tháng trở xuống chiếm tỷ trọng lớn), thiếu nguồn vốn trung và dài hạn để tài trợ các dự án trên 5 năm; nguồn vốn ngoại tệ chưa dồi dào để đáp ứng các nhu cầu đột xuất; và quy định pháp luật chưa lượng hóa rõ ràng căn cứ điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn từ NHNN.
5. Thực trạng hoạt động và sai phạm tại hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân được nêu trong khóa luận như thế nào?
Toàn hệ thống có gần 1.200 Quỹ tín dụng nhân dân tại 56/63 tỉnh thành với gần 2,1 triệu thành viên. Hạn chế chủ yếu là quy mô nhỏ, quản trị rủi ro yếu, tỷ lệ cho vay quá cao gây rủi ro thanh khoản và xuất hiện sai phạm trong quản lý sổ tiết kiệm trắng tại một số quỹ ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hậu Giang.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Mai Trang đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và quy định pháp luật về hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích dữ liệu thực tế tại Ngân hàng TMCP Quân Đội giai đoạn 2019 - 9T/2023, công trình đã làm nổi bật các thành tựu tăng trưởng nguồn vốn song song với việc chỉ ra các bất cập về cơ cấu kỳ hạn, ngoại tệ và các điểm nghẽn pháp lý liên quan đến trần lãi suất, phát hành giấy tờ có giá và tái cấp vốn. Trên cơ sở đó, khóa luận đưa ra hệ thống kiến nghị có giá trị khoa học nhằm hoàn thiện pháp luật ngân hàng và nâng cao hiệu quả quản trị nguồn vốn tại các ngân hàng thương mại.