MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Phòng ngừa rủi ro và đảm bảo an toàn không chỉ là mục tiêu, tôn chỉ mà còn là nguyên tắc tổ chức, hoạt động của mỗi ngân hàng nói riêng và hệ thống ngân hàng quốc gia nói chung. Các ngân hàng sử dụng tổng lực nhiều công cụ để thực hiện mục tiêu này, bao gồm: Tài chính, quản trị kinh doanh, nhân sự và ứng dụng công nghệ thiết lập ba tuyến phòng phủ để nhận diện, phòng ngừa, xử lý và loại bỏ TỦI ro. Sau nhiều năm thăng tram của hệ thống NHTM Việt Nam, đã đến lúc phải đánh giá lại và kết luận một cách công bằng, khách quan về tính khả thi của các chính sách pháp luật, tính toán chỉ phí tuân thủ pháp luật để kết luận về tính hiệu quả của hệ thống pháp luật Việt Nam về hoạt động ngân hàng nói chung và pháp luật bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng nói riêng.
Thực trạng cho thấy các báo cáo tổng kết của những ngân hàng cụ thể, kể cả các báo cáo của ngành ngân hàng chưa phản ánh được đa chiều của hoạt động ngân hàng. Do vậy, việc chọn đề tài và đặt ra mục tiêu phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật dưới khía cạnh một nghiên cứu độc lập có giá trị ứng dụng cao, phục vụ sứ mệnh hoàn thiện pháp luật. Mặc dù pháp luật về đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam chỉ có một, thống nhất áp dụng chung cho tat cả ngân hàng hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam nhưng tại mỗi ngân hàng năng lực tổ chức thực hiện, mức độ tuân thủ khác nhau và hệ quả khác nhau. Nhiều ngân hàng mất khả năng chỉ trả, bị NHNN Việt Nam đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, đứng bên bờ vực phá sản.
Do vậy, việc nghiên cứu khảo sát và tìm kiếm các giải pháp pháp lý dé gia tăng hiệu qua áp dụng pháp luật tại các NHTM là quan trọng, nhu cầu cấp thiết hiện nay. Các quy định pháp luật về đảm bảo an toàn đã và đang hình thành hành lang pháp lý chung, điều chỉnh các hoạt động ngân bàng đi vào khuôn khổ nhất định. Tuy nhiên, các văn bản luật như: Luật Các TCTD năm 2010, Luật Các TCTD năm 2017 sửa đồi, bỗ sung Luật Các TCTD năm 2010 và các văn bản khác có liên quan bộc lộ những bat cập nhất định trong quá trình áp dụng và cần các giải pháp khả thi và hiệu quả để hoàn thiện pháp luật. Xu hướng hội nhập hệ thống tài chính quốc tế, các NHTM cần được cập nhật các giới hạn an toàn theo Basel I, II và III phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, đặc biệt hệ thống pháp luật của quốc gia.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn như trên, việc chọn đề tài “Pháp luật về giới hạn an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại tại Việt Nam” để nghiên cứu và thực hiện luận án Tiến sĩ luật học là đáp ứng được yêu cầu cấp thiết trong lý luận, hoạt động xây dựng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật ở Việt Nam hiện nay. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2. Mục đích nghiên cứu Luận án “Pháp luật về giới hạn an toàn trong hoạt động của NHTM tại Việt Nam” làm sáng tỏ (i) lý luận của pháp luật về giới hạn an toàn; (ii) phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về giới hạn an toàn và thực thi các quy định này trong thực tiễn; va (iii) đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn hiện pháp luật về giới hạn an toàn trong hoạt động của NHTM tại Việt Nam phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam và thông lệ quốc tế hiện nay. Nhiệm vụ nghiên cứu Để hoàn thiện các mục đích nêu trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu như sau: Thứ nhất, khảo sát một cách có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước; tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu này làm cơ sở lý luận chung cho toàn bộ luận án.
Đồng thời, phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam trên cơ sở đối chiếu, so sánh với các quy định của Basel và một số nước trên thế giới nhằm tim ra những hạn chế, bat cập. Từ đó, hình thành các kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật. Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về giới hạn an toàn vốn, bao gồm: Tỷ lệ đòn bay tài chính, cơ cấu vốn cấp 1 và xác định tài sản có rủi ro trong hoạt động của NHTM tại Việt Nam; đồng thời, minh chứng bằng các vụ án điển hình trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng trong thời gian qua. Từ đó, tác giả luận án đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giới hạn an toàn vốn trong hoạt động của NHTM tại Việt Nam.
Thứ ba, phân tích, đánh giá có hệ thống thực trạng pháp luật về giới hạn an toàn thanh khoản với các nội dung như: Tỷ lệ đảm bảo thanh khoản, kiêm soát các sản phẩm huy động khác thường trong hoạt động của NHTM tại Việt Nam; đồng thời, chọn lọc một số vụ án điển hình trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng nhằm luận giải nguyên nhân tồn tại những bat cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở đó, tác giả luận án đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giới hạn an toàn thanh khoản trong hoạt động của NHTM tại Việt Nam. Thứ ne, phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về giám sát tuân thủ và thực thi giới hạn an toàn; đồng thời, minh chứng bằng các vụ án điển hình trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng có ảnh hưởng nghiêm trọng, tác động tiêu cực đến pháp luật hiện hành. Trên cơ sở đó, tác giả luận án đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giám sát tuân thủ và thực thi giới hạn an toàn dé gia tăng kỷ luật thị trường trong hoạt động của NHTM tại Việt Nam.
Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 3. Pham vi nghiên cứu Giới hạn an toàn trong hoạt động của NHTM được nghiên cứu, phân tích, đánh giá ở nhiều góc độ khác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu của luận án này, tác giả tiếp cận giới hạn an toàn trong hoạt động của NHTM nhìn từ góc độ pháp lý, cụ thể như sau: Thứ nhất, về không gian, tác giả nghiên cứu quy định pháp luật thực định về giới hạn an toàn trong hoạt động của NHTM tại Việt Nam; tham khảo các khuyến nghị của Ủy ban Basel về giới hạn an toàn; đồng thời tiếp thu kinh nghiệm quốc tế đã triển khai thành công các chuẩn mực của Basel I, II, II tai Nhật Bản và Trung Quốc, đặc biệt Trung Quốc - quốc gia có điều kiện kinh tế chính trị xã hội khá tương đồng với Việt Nam. Thu hai, về thời gian, tác giả nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật thực định hiện hành như: Luật NHNN năm 2010, Luật Các TCTD năm 2010, Luật Các TCTD năm 2017 sửa đổi, bổ sung Luật Các TCTD năm 2010 và các văn bản khác có liên quan.
Thứ ba, về lĩnh vực nghiên cứu, theo pháp luật Việt Nam hiện hành có sáu nhóm giới hạn: (i) Giới han tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu; (ii) Các hạn chế, giới hạn cấp tin dụng; (iii) Giới han tỷ lệ khả năng chi trả và quan lý thanh khoản; (iv) Giới hạn tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng dé cho vay trung hạn và dài hạn; (v) Giới hạn vốn dau tu (mua trái phiếu, góp vốn, mua cổ phan.) và (vi) Giới hạn tỷ lệ du nợ cho vay so với tổng tiền gửi. Tuy nhiên, trong phạm vi dé tài “Pháp luật về giới hạn an toàn trong hoạt động của NHTM tại Việt Nam”, tác giả không nghiên cứu theo trình tự sáu nhóm như trên mà chọn lọc hai nhóm giới hạn cơ bản nhất và thực hiện lòng ghép bốn nhóm giới hạn còn lại vào các chương phù hop: (i) Giới hạn tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và (ii) Giới hạn tỷ lệ khả năng chỉ trả và quản lý thanh khoản, đồng thời kết hợp nghiên cứu cơ chế giám sát tuân thủ và thực thi các giới hạn này trong thực tiễn nhằm kỳ vọng giải quyết đầy đủ nội dung nghiên cứu của đề tài. Theo đó, giới hạn tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được triển khai trong chương 3; tương tự giới hạn tỷ lệ khả năng chi trả và quản lý thanh khoản tại chương 4; ngoài ra, để bảo đảm hiệu quả pháp luật của chương 3 và 4, tác giả quyết định bổ sung thêm chương 5 tuân thủ kỷ luật thị trường trong hoạt động của NHTM, tức là cần cơ chế giám sát tuân thủ và thực thi để chuyền hóa các quy định pháp luật về giới hạn an toàn đi vào thực tiễn cuộc sống và phát huy hiệu quả pháp luật. Nếu tiếp cận vấn đề nghiên cứu nhìn từ góc độ hoạt động cơ bản của NHTM thì cần phải nghiên cứu đầy đủ sáu nhóm giới hạn nêu trên.
Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này, tác giả nghiên cứu vấn đề nhìn từ góc độ quản trị dòng tiền, do vậy việc chọn nội dung: Pháp luật về giới hạn an toàn vốn; Pháp luật về giới hạn an toàn thanh khoản và Tuân thủ kỷ luật thị trường vẫn bảo đảm đầy đủ và giải quyết cơ bản các nội dung nghiên cứu so với tên tài. Thứ tw, luận án chỉ tập trung nghiên cứu pháp luật về giới hạn an toàn trong hoạt động của NHTM tại Việt Nam, không nghiên cứu các tổ chức tín dụng khác như: Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng hợp tác xã và các TCTD phi ngân hàng (công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, hợp tác xã tài chính, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô và các TCTD phi ngân hàng khác). Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống lý thuyết liên quan đến giới hạn an toàn trong hoạt động của NHTM tại Việt Nam; các quy định pháp luật thực định về giới hạn an toàn và giám sát tuân thủ và thực thi; thực tiễn thực thi pháp luật về giới hạn an toàn và giám sát tuân thủ và thực thi trong hoạt động của NHTM tại 'Việt Nam. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Về khoa học Luận án là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống, toàn diện và đầy đủ về lý luận của pháp luật về giới hạn an toàn trong hoạt động của NHTM tại Việt Nam.