Chương I: Cơ sở lý luận về công tác quản lý Quỹ tín dụng nhân dân ở địa phương (cấp tỉnh) Chương II: Thực trạng công tác quản lý hệ thống QTDND tỉnh Nghệ An. Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hệ thống QTDND tỉnh Nghệ An 6 CHUƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HỆ THỐNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN Ở ĐỊA PHƢƠNG (CẤP TỈNH) 1. Một số vấn đề cơ bản về QTDND và quản lý hệ thống QTNDND 1. Quỹ tín dụng nhân dân 1.1 Khái niệm: Quá trình hình thành và phát triển mô hình Quỹ tín dụng nhân dân gắn liền với lịch sử phong trào Hợp tác xã nói chung và Hợp tác xã tín dụng nói riêng.
Sự hình thành các HTX xuất hiện đầu tiên ở các nước Châu Âu và Bắc Mỹ, vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 đến nay, các tổ chức tín dụng hợp tác với nhiều loại hình và tên gọi khác nhau như HTXTD, quỹ tín dụng và tiết kiệm, Quỹ TDND, Ngân hàng HTX…hầu như đã hiện diện ở tất cả các nước trên thế giới và tập hợp vào những Hiệp hội quốc tế với số hội viên của trên 100 nước tham gia. Để giải quyết nhu cầu vốn cho đời sống và sản xuất kinh doanh ở địa bàn nông thôn ngày càng gia tăng làm xuất hiện hình thức tín dụng tư nhân cho vay nặng lãi (Hay còn gọi là tín dụng đen). Nhu cầu cấp bách cần phải thực hiện là phải có loại hình TCTD thích hợp thay thế. “Từ năm 1993 Chính phủ đúc kết kinh nghiệm thực “tiễn của các Hợp tác xã tín dụng ở nước ta và chủ trương nghiên cứu các mô hình tổ chức, hoạt động của các Quỹ tín dụng phát triển mạnh ở một số nước lớn trên thế giới để xúc tiến thiết lập, xây dựng loại mô hình tín dụng hợp tác mới, phù hợp với” tình hình kinh tế thị trường ở Nông thôn.
Từ thực tế đó, NHNN Việt Nam đã tổ chức nhiều đoàn cán bộ khảo sát tìm hiểu mô hình QTDND ở một số nước để vận dụng vào thực tiễn Việt Nam. Đến năm 1993, Thống đốc NHNN Việt Nam trình Chính phủ về “Đề án thí điểm thành lập QTDND ở Việt Nam”, đến ngày 27/7/1993 Thủ tướng ra Quyết định 390/TTg cho phép triển khai “đề án thí điểm thành lập Hệ thống QTDND” tại một số tỉnh nước ta, đáp ứng với yêu cầu đòi hỏi thực tiễn ở “Nông thôn. Đây là dấu mốc đánh dấu một trong những bước đi đầu tiên cụ thể hoá các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước.”” 7 Theo chỉ thị số 57/CT – TW ngày 10/10/2000 của Bộ Chính trị: “Quỹ tín dụng nhân dân là loại hình TDTD do các thành viên (chủ yếu là các cá nhân và hộ gia đình ở nông thôn) góp vốn lập nên, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên và giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống” Căn cứ vào Luật các tổ chức tín dụng 2010 (khoản 6 Điều 4) thì: “Quỹ tín dụng nhân dân là TCTD do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống” 1.2 Vai trò của QTDND đối với phát triển KTXH Xem xét điều kiện ra đời của QTDND có thể thấy QTDND như một kênh vốn “phục vụ các nhu cầu về vốn nhỏ lẻ ở nông nghiệp nông thôn và các thành viên tham gia QTDND chính là các hộ gia đình, cá nhân ở đó. Có thể nói do quy mô tổ chức, địa bàn hoạt động chủ yếu gắn liền với dân cư, giao dịch thuận tiện nên chỉ trong thời gian ngắn mô hình QTDND được cấp uỷ Đảng, Chính quyền và nhân dân ở nhiều địa phương ủng hộ và quan tâm phát triển.” “Vai trò của mô hình QTDND là đóng góp quan trọng vào việc khai thác nguồn vốn tại chỗ, đáp ứng nhu cầu về vốn cho nhân dân, hạn chế cho vay nặng lãi trên địa bàn nông thôn.” Tăng cường huy động và cung cấp vốn cho phát triển NN-NT QTDND Chuyển dịch cơ cấu kinh tế NN-NT Phát triển KT NN - NT Kết nối liên kết với các hội để tăng cường phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn Sơ đồ 1.
1 “Mục tiêu phát triến kinh tế NT- NT của QTDND” 8 “Thực tế cho thấy QTDND ra đời đã góp phần cung cấp các dịch vụ tín dụng, ngân hàng cho dân cư trên địa bàn. Qua hoạt động của QTDND, ý thức tiết kiệm và tích lũy của người dân được nâng cao, những đồng vốn nhàn rỗi được huy động để đưa vào đầu tư phục vụ cho phát triển sản xuất, mở mang ngành nghề, dịch vụ, QTDND vừa lại người quản lý một phần tài sản của thành viên, vừa là nhà cung ứng vốn cho người dân trên địa bàn nên đảm bảo tính ổn định của đầu tư lâu dài;”vì “vậy đã mở ra một kênh chuyên tải lớn mới, đa dạng hoá các hình thức hoạt động tín dụng trên địa bàn nông thôn, từng bước góp phần xóa bỏ hụi, họ, tệ cho vay nặng lãi ở nông thôn. Hiện nay ở nhiều vùng: địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa, hoặc kể cả nông thôn khi mà Nhà nước và các tổ chức tín dụng Thương mại khác còn gặp khó khăn khi tiếp cận đồng vốn đến với người dân thì các QTDND lại tỏ ra phù hợp, bởi vì mô hình QTDND đã phát huy được tinh thần nội lực của người dân để tự giải quyết các khó khăn, vướng mắc của chính bản thân họ, đồng thời thực hiện có hiệu quả các chương trình tiết kiệm, huy động tiềm năng trong nhân dân để phục vụ cho đầu tư tại chỗ, tận dụng được nguồn vốn nhàn rỗi trong cộng đồng dân cư.”Nguyên tắc “3 tại chỗ”(huy động tại chỗ; cho vay tại chỗ; kiểm tra, giám sát, quản lý tại chỗ), “4 đi cùng:” (cùng mục tiêu, cùng tham gia quản lý, cùng chia sẻ trách nhiệm, cùng hưởng lợi) được các QTDND áp dụng linh hoạt và phát huy lợi thế. “Trong thực tế có rất nhiều Quỹ tín dụng đóng vai trò quan trọng vào sự phát triển kinh tế ở địa phương.
Ở nhiều nơi, nhiều vùng nhờ có QTDND nên thành viên, các hộ gia đình có điều kiện xoá đói giảm nghèo hiệu quả, hỗ trợ tích cực cho địa phương chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng trong nông nghiệp…Đây là những đóng góp to lớn đã được cấp uỷ, chính quyền và nhân dân ở nhiều nơi ghi nhận. Mặt khác, với tư cách là một doanh nghiệp, QTDND đóng góp một cách đáng kể các khoản thuế hàng năm cho ngân sách địa phương, trực tiếp tham gia vào các chương trình phát triển kinh tế xã hội ở xã phương, hỗ trợ đắc lực nhất cho các hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ một cách kịp thời, tạo ra nhiều việc làm và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Thực tiễn những kết quả đạt được của các QTDND trong nhiều năm qua khẳng định vai trò của hệ thống tín dụng hợp tác đối 9 với địa bàn nông nghiệp, nông thôn: chính các QTDND là một yếu tố kinh tế quan trọng, góp phần nâng cao đời sống, thu nhập của người dân ở các vùng nông thôn, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế hộ gia đình.” “Hoạt động của các QTDND không chỉ có ý nghĩa đơn thuần về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa xã hội to lớn là thực hiện các mục tiêu xã hội lớn như tạo công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, ổn định tình hình trật tự kinh tế, chính trị, xã” hội…thông qua việc cho vay hộ nghèo, sử dụng nguồn nhân lực địa phương trên cơ sở thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, và phát triển tài chính ngân hàng. “Không chỉ khai thác tốt nguồn vốn tại chỗ trong nước hệ thống QTDND còn tranh thủ được sự ủng hộ mạnh mẽ của các tổ chức tài chính quốc tế và nhận được sự trợ giúp to lớn về hỗ trợ kỹ thuật, phát triển thể chế, đầu tư tín dụng.
Về mặt này có thể nói đây là một thành công lớn của Quỹ tín dụng TW nói riêng và hệ thống QTDND nói chung. Kết quả trong lĩnh vực thu hút vốn đầu tư từ các tổ chức tài chính quốc tế của hệ thống có thể đánh giá là chỉ sau các tổ chức tín dụng nhà nước.3 Đặc điểm về tổ chức và nguyên tắc hoạt động QTDND Đặc điểm chủ yếu trong tổ chức và nguyên tắc trong hoạt động quỹ tín dụng nhân dân là hoạt động dựa trên 2 luật cơ bản là luật tổ chức tín dụng và luật hợp tác xã. Nguồn vốn chủ sở hữu là vốn góp từ các thành viên quỹ tín dụng nhân dân, mục tiêu hoạt động là tương trợ giữa các thành viên để phát triển kinh tế. Theo đó các nguyên tắc hoạt động cơ bản: Thứ nhất tự nguyện gia nhập và ra khỏi quỹ: Các cá nhân, hộ gia đình có đơn gia nhập thanh viên, đáp ứng điểu kiện về tư cách và về vốn góp thì được xem xét tham gia vào Quỹ với tư cách thành viên và được xem xét cho ra khỏi khi có nhu cầu.
Thứ hai quản lý dân chủ và bình đẳng: Mọi thành viên đều có quyền ngang nhau trong tham gia ý kiến vào hoạt động quỹ thông qua đại hội thành viên được tổ chức định kỳ mỗi năm một lần, hoặc khi có trường hợp đột xuất khác.