Chương 1 KHÁI QUAT VE HOAT ĐỘNG GIÁM SÁT VÀ PHÁP LUAT VE GIÁM SÁT NGÂN HÀNG 1. Khái quát về hoạt động giám sát ngân hàng 1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động giám sát ngân hàng 1.1 Khai niệm giảm sát ngân hàng Hoạt động ngân hàng là một hoạt động có tính đặc thù, phức tạp cao. Hiện nay, lĩnh vực hoạt động ngân hàng ngày càng trở nên sôi động, tác động trực tiếp đến nhiều mặt của đời sống kinh tế- xã hội.
Dam bảo sự 6n định và lành mạnh của hệ thống ngân hàng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các cơ quan quan lý nhà nước trong lĩnh vực này. Vì thé, hoạt động giám sát ngân hàng tôn tại như một đòi hỏi khách quan của nên kinh tê và nhu câu quản lý. Khai niệm giám sát từ xa đối với các NHTM xuất hiện và nghiên cứu tại Mỹ vào những năm cuối thập kỷ 70, thời kỳ nhiều ngân hàng Mỹ rơi vào tình trạng khủng hoảng, sau đó tình trạng tương tự xảy ra tại Tây Ba Nha. Qua nghiên cứu, các nhà quản lý ngân hàng phát hiện những hiện tượng không bình thường và dẫn đến tình trạng khủng hoảng nói trên phần lớn đều phát sinh trong thời gian “ khoảng trống” giữa hai kỳ Thanh tra tại chỗ.
Tình trạng này cũng diễn ra khá phổ biến ở các nước trên thế giới đối với ngành ngân hàng. Để khắc phục hiện tượng này, các nhà quản lý đã đưa ra một phương pháp nhằm giám sát từ xa, được áp dụng hầu hết phổ biến với hoạt động Thanh tra của Ngân hàng Trung ương các nước và trở thành biện pháp nghiệp vụ không thể thiếu trong quá trình Thanh tra, giám sát hoạt động của các NHTM Ủy ban Basel cũng đã đưa ra 25 nguyên tắc về Thanh tra, giám sát ngân hàng bao gồm khung giám sát từ khâu cấp phép thành lập, tổ chức và hoạt động, quản trị điều hành đến giải thể, phá sản ngân hàng. Bản chất của giám sát hệ thống ngân hàng là thực hiện giám sát những nguy cơ rủi ro đối với hệ thống ngân hàng và khả năng khống chế rủi ro. Do đó, hoạt động giám sát ngân hàng phải tập trung giám sát và quản lý thận trọng băng cách cố gắng đánh giá hết được những rủi ro nảy sinh từ các hoạt động ngân hàng.
Hoạt động giám sát từ xa được áp dụng vào Việt Nam khoảng năm 1991. Lúc đầu được thực hiện chủ yêu bằng phương pháp thủ công nên rất chậm, không tiến hành theo định ky tháng và chất lượng thấp. Tại Điều 1 Quyết định số 398/1999/QD-NHNN3 ngày 09/11/1999 quy định: Giám sát từ xa là việc gián tiếp kiểm tra thông qua tổng hợp và phân tích các báo cáo để đánh giá các nội dung sau đây của các NHTM: diễn biến về cơ cau tài sản No và tài sản có; chất lượng tài sản có; von tự có; tình hình thu nhập, chi phí và két quả kinh doanh; việc thực hiện qui định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của NHTM và các qui định khác của pháp luật; các vân đê liên quan khác. Khoản 12 Điều 6 Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010 quy định : “Giám sát ngân hàng là là hoạt động của Ngân hàng Nhà nước trong việc thu thập, tông hợp, phân tích thông tin về đôi tượng giám sát ngân hang thông qua hệ thống thông tin, báo cáo nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng, vi phạm quy định an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.2 Đặc điểm của hoạt động giám sát ngân hàng Hoạt động giám sát có những đặc điểm chung như sau: Thứ nhất, tỉnh quyên lực nhà nước: Là một chức năng quản lý nhà nước, hoạt động giám sát phải là công cụ đắc lực nhăm thực hiện quyền lực của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý.
Nói về quyền lực nhà nước trong quá trình giám sát cũng có nghĩa là xác định về mặt pháp lý tính chất nhà nước của tô chức thanh tra, giám sát. Đôi với các quôc gia trên thê giới, chủ thê tiên hành giám sát luôn là cơ quan nhà nước, dù mô hình tổ chức thanh tra có khác nhau. Vì vậy, hoạt động giám sát phải được nhà nước sử dụng như một công cụ hiệu quả trong quá trình quản lý. Tính quyền lực nhà nước của hoạt động giám sát được thê hiện ở những mặt sau: -Ra các quyết định bắt buộc thực hiện đối với các đối tượng bị giám sát về những vấn đề đã bị phát hiện và xử lý -Yêu cầu cấp có thâm quyền giải quyết đề nghị của thanh tra, yêu cầu truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những người vi phạm pháp luật” -Trong những trường hợp cần thiết, trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chê nhà nước.
Ngoài ra tính quyền lực nhà nước của hoạt động giám sat còn được cụ thể hóa ở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng tô chức thực hiện hoạt động giám sát; phương thức tiến hành giám sát; xử lý kết quả giám sát; trong mối quan hệ giữa cơ quan giám sát với đôi tượng giám sát cũng như trong sự phối hợp giữa các tổ chức thanh tra, giám sát nhà nước theo cấp hành chính và theo ngành, lĩnh vực. Hoạt động giám sát đòi hỏi phải sử dụng đồng bộ tính quyền lực nhà nước trên tất cá các lĩnh vực, như vậy mới phát huy hiệu quả của hoạt động giám sát. Thứ hai, tính khách quan Bản chất của hoạt động giám sát là xem xét, đánh giá một cách khách quan việc thực hiện chính sách pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của các cơ quan, tô chức và cá nhân. Kết quả của hoạt động giám sát là đưa ra kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý vi phạm góp phần bảo vệ lợi ích của nhà nước, xã hội, các quyền và lợi ich hợp pháp của công dân.
Kết quả của hoạt động giám sát là đánh giá tính đúng, sai trong hoạt động của đối tượng giám sát, đưa ra những khuyến nghị và biện pháp can thiệp, khắc phục kịp thời nhằm hướng hoạt động của đối tượng đi đúng hướng. Vì thế, hoạt động giám sát phải mang tính khách quan. Tính khách quan thê hiện ở chỗ mọi hoạt động giám sát đều dựa trên cơ sở pháp luật và tuân theo pháp luật. Bởi nếu hoạt động giám sát không dựa trên cơ sở pháp luật thì nó sẽ mất đi tính công minh, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước.
Tứ ba, tính độc lập tương đổi Tính độc lập tương đối là đặc điểm vốn có, xuất phát từ bản chất của giám sát. Khác với hoạt động kiểm tra thường do bản thân các cơ quan quản lý nhà nước tự tiến hành, hoạt động giám sát thường được tiến hành bởi cơ quan chuyên trách. Vì vậy, khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, ngoài việc đảm bảo sự phối kết hợp nhịp nhàng với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước, hoạt động giám sát còn có tính độc lập tương đối trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Điều này được thể hiện ở chỗ: các tô chức thanh tra, giám sát được phép tự mình tổ chức các cuộc giám sát trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội theo thẩm quyền pháp luật quy định.
Trên cơ sở kết quả giám sát, ra các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý theo các quy định của pháp luật về giám sát, chịu trách nhiệm về kêt quả giảm sát của mình. Tính độc lập của hoạt động giám sát chỉ là tương đối, vì ngoài việc căn cứ vào pháp luật, hoạt động giám sát còn phải xuất phát từ thực tế cuộc sống, phải đặt sự vật, hiện tượng trong sự phát triển biện chứng với quan điểm khoa học, khách quan, lịch sử cụ thê. Thứ tư, hoạt động giảm sát luôn gắn với quản lý nhà nước Ngoại trừ hoạt động giám sát xã hội của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước thông qua khiếu nại, tố cáo; hoạt động giám sát luôn gan với quản lý nhà nước. Quan ly nhà nước và thanh tra, giám sát có điểm chung là nhân danh quyền lực nhà nước, thực hiện sự tác động lên đối tượng quản lý.
Quản lý và giám sát có quan hệ mật thiết với nhau. Thanh tra, giám sát chỉ xuất hiện khi có nhà nước và ở đâu có quản lý nhà nước thì ở đó có thanh tra, giảm sát. Trong môi quan hệ này, quan lý nhà nước g1ữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động giám sát (thể hiện ở việc xác định đường lối, chủ trương, quy định thâm quyền của Cơ quan thanh tra, giám sát; sử dụng các kết quả thông tin từ phía Cơ quan thanh tra, giám sát). Ngoài ra, với tư cách là một khâu trong chu trình quản lý, thanh tra, giám sát bị ràng buộc, chế ước bởi quản lý nhưng đồng thời bị tác động trở lại, góp phần điều chỉnh cách thức, phương pháp quản lý của chủ thê quản lý.
Nhờ có giám sát mà mục đích của quản lý được đảm bảo. Thực tế cho thấy rằng, một thé chế hành chính và cơ quan quản ly nhà nước sẽ không day đủ và kém hiệu quả nếu thiếu giám sát. Hoạt động có tính hiệu quả của giám sát sẽ ngăn chặn được nguy cơ biến dạng, tùy tiện và thiếu kỷ cương trong hoạt động của bộ máy nhà nước. Bên cạnh đó, hoạt động giám sát ngân hàng có những đặc điểm riêng như sau: Thử nhất, về chủ thể: Hoạt động giám sát ngân hàng đươc thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thấm quyền, mà cụ thé là Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng trực thuộc Ngân hàng nha nước Việt Nam.
Đây là đơn vị tương đương tổng cục chịu trách nhiệm về công tác giám sát các tổ chức tín dụng (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và hoạt động ngân hàng; và giám sát ngân hàng tại các địa phương trực thuộc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phó về mặt tô chức và chịu sự chỉ đạo về mặt nghiệp vụ của Cơ quan giám sát ngân hàng. Tứ hai, về đối tượng: Đối tượng của hoạt động giám sát ngân hàng bao gồm các NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.