Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận về quản lý nợ thuế 4 Chương 3: Thực trạng về công tác quản lý nợ thuế tại Cục thuế tỉnh Khánh Hòa Chương 4: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý nợ thuế tại Cục thuế tỉnh Khánh Hòa 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NỢ VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1. TỔNG QUAN VỀ THUẾ VÀ NỢ THUẾ Trong quá trình phát triển lịch sử đã chứng minh, sự ra đời và tồn tại của thuế là khách quan, là điều kiện vật chất tối quan trọng nhất cho sự tồn tại và phát triển hơn nữa của nhà nước. Khi một nhà nước ra đời, để bảo đảm sự tồn tại và thực hiện tốt các hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của mình, nhà nước phải sử dụng quyền lực chính trị vốn có của mình để tập trung vào tay mình một phần của cải của xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của xã hội, đồng thời để trang trải nhà nước. Tình trạng tập trung và huy động các nguồn lực trong xã hội có thể diễn ra bằng nhiều cách khác nhau, một trong số đó là hình thức đóng góp bắt buộc gọi là thuế.
Khái niệm cơ bản về thuế Thuế vừa là một phạm trù kinh tế vừa là một phạm trù lịch sử. Thuế ban đầu xuất hiện dưới một hình thức rất đơn giản, việc thu thuế chuyển từ thu vật chất sang thu theo giá trị, đặc biệt là sau khi tiền tệ xuất hiện. Theo thời gian, thuế ngày càng xâm nhập và lan rộng vào mọi ngành, lĩnh vực của nền kinh tế, tác động đến mọi hoạt động của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Năm 1817, nhà khoa học nổi tiếng của Mỹ Benjamin Franklin trong quyển “The World of Benjamin Franklin” đã viết “Trên thế giới không có thứ gì có thể được nói là chắc chắn, ngoài trừ cái chết và thuế”.
Nhiều cấp độ và khía cạnh khác nhau của thuế đã được các nhà kinh tế học nghiên cứu chuyên sâu và khái niệm này được đề xuất dựa trên đánh giá của mình. Karl Marx đã viết: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước”. Engels “Đề duy trì quyền lực công cộng cần có sự đóng góp của công dân cho Nhà nước, đó là thuế”. Vì vậy, khái niệm thuế có thể được hiểu là số tiền thu được từ công dân, từ hoạt động sản xuất, kinh doanh và thậm chí cả vật chất (như giao dịch, tài sản), nộp thuế là nghĩa vụ bắt buộc của người khai thuế nhằm huy động nguồn lực tài chính cho chính quyền, cung cấp mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, qua đó giúp người dân cải thiện cuộc sống, sức khỏe, an sinh xã hội, môi trường thông qua các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, giáo dục, kinh tế, tạo sự 6 phát triển liên vùng Dưới góc độ nghiên cứu của bài viết, thuế là tài khoản đóng góp bắt buộc mà mọi tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải nộp cho nhà nước theo quy định của luật pháp do Quốc hội ban hành để có nguồn chi cho hoạt động bộ máy các cơ quan nhà nước, giúp điều tiết các hoạt động phát triển kinh tế, điều hòa thu nhập, mang lại lợi ích chung cho xã hội.
Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2006 đã đề cập đến khái niệm về thuế tại Điều 4: “Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN. Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế.” Có thể thấy, tuy có nhiều cách định nghĩa khái niệm thuế nhưng chúng ta đều thấy rằng bản chất của thuế có những điểm đặc biệt sau: 1. Khái niệm Các đặc điểm cơ bản của thuế có tính pháp lý cao.
Số thuế phát sinh được tính theo quy định dựa trên thu nhập của người nộp thuế, làm cơ sở xác định số tiền bắt buộc phải nộp vào ngân sách nhà nước mà người nộp thuế phải chuyển. Tuy nhiên, trên thực tế, vì nhiều lý do khác nhau, người nộp thuế có thể nộp thuế hoặc không nộp thuế cho ngân sách trong thời hạn quy định, dẫn đến phát sinh nợ thuế. Nợ thuế là số tiền được xác định phải nộp vào NSNN theo quy định của pháp luật nhưng chưa được nộp vào NSNN. Người nợ thuế là tổ chức, cá nhân nộp thuế tiếp tục nợ các khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản khác phải nộp theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật.
Ngoài ra, theo Quyết định 1401/QĐ-TCT ban hành ngày 28/07/2015, tiền thuế nợ là: các khoản tiền thuế; phí, lệ phí; các khoản thu từ đất; thu từ khai thác tài nguyên khoáng sản và các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật (gọi chung là tiền thuế) nhưng đã hết thời hạn quy định mà NNT chưa nộp vào NSNN. Tuổi nợ là: “Khoảng thời gian liên tục được tính từ thời điểm khoản nợ bắt đầu phát sinh (căn cứ theo quy định của pháp luật thuế về thời hạn nộp đối với từng 7 sắc thuế) cho đến thời điểm mà khoản nợ đó được CQT thống kê nó”. Thời gian nợ luôn là một yếu tố quan trọng gắn liền với nợ thuế. Rõ ràng, xét tổng thể, không tính đến các trường hợp đặc biệt, với CQT việc nợ thuế càng ít và thời gian nợ càng ngắn thì càng tốt.
Với những khoản nợ đã quá hạn, tuổi nợ càng kéo dài thì nhà nước càng thiệt và mức độ rủi ro trong thu hồi nợ càng tăng cao. Do vậy, khái niệm này là một tiêu chí cần được chú trọng trong QLNT và có thể xem nó như là 1 tiêu chí bắt buộc trông phân loại nợ thuế. Tiền nộp chậm là khoản tiền phạt bổ sung do người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ thuế không đúng hạn, được tính dựa trên số tiền thuế phải nộp và số ngày nợ thuế. Mức lãi chậm nộp hiện nay được quy định tại Điều 59 Luật Quản lý Thuế số 38/2019/QH14 và là 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp.
Số thuế phải nộp là số tiền thuế mà người nợ thuế phải nộp tại một thời điểm nhất định, bắt đầu từ một ngưỡng được ấn định khi nợ thuế đã phân loại. Phân loại thuế nợ: Phân loại thuế nợ là công việc phân chia thuế nợ thành nhiều loại khác nhau theo những tiêu chuẩn nhất định. Hiện nay, việc phân loại nợ thuế chủ yếu căn cứ vào thời hạn nợ, nội dung nợ, khả năng thu hồi nợ, loại nợ, đối tượng nợ và các tiêu chí khác. Việc phân loại nợ thuế là là một phương pháp quan trọng.
Nó giúp cơ quan thuế hiểu được đặc điểm, tính chất và nguyên nhân của nợ thuế.Từ đó có những biện pháp phù hợp, hiệu quả để kiểm soát và thúc đẩy việc thu hồi nợ. Cụ thể, việc phân loại nợ được trình bày bằng các phương pháp quan trọng nhất để phân loại nợ thuế. - Theo thời hạn nợ: Theo tiêu chí này, nợ thuế được chia thành nợ ngắn hạn và nợ quá hạn. + Nợ trong hạn: Nhóm này gồm các khoản nợ thuế đang trong kỳ nộp thuế.
Ví dụ: nghĩa vụ thuế đang trong thời gian miễn thuế, giảm thuế hoặc đang trong quá trình xác định lại nghĩa vụ của người nộp thuế theo quy định của pháp luật. Đối với nợ thuế quá hạn, nợ thuế là chuyện bình thường và không phải là vấn đề đáng lo ngại trong công tác quản lý. Tuy nhiên, các khoản nợ thuế quá hạn cũng cần được theo dõi để tạo điều kiện và khuyến khích việc thu nộp kịp thời khi đến hạn nộp thuế. 8 + Nợ quá hạn: Các khoản nợ thuộc nhóm này được phân loại là nợ thông thường theo tiêu chí phân loại dựa trên khả năng thu hồi nợ.
Điều này có nghĩa là khoản nợ quá hạn theo quy định của pháp luật hoặc theo thông báo, quyết định của CQT nhưng chưa thanh toán được coi là nợ quá hạn. Tùy theo nhu cầu quản lý, nợ quá hạn có thể được phân loại chi tiết hơn theo mức độ quá hạn của để có biện pháp quản lý phù hợp và khuyến khích thu nợ thuế. - Theo nội dung nợ: Theo tiêu chí này, nợ thuế được chia thành nợ thuế thông thường qua thuế suất; nợ tiền phạt về thuế, phí, tiền chậm nộp; Việc xử phạt thu hồi nợ phải được thực hiện sau khi đã kiểm tra, xác minh việc tuân thủ pháp luật về thuế. + Nợ thuế, phí thông thường: Nợ nhóm này nhìn chung bao gồm các khoản nợ phát sinh từ thuế, phí mà người nộp thuế kê khai với Cơ quan quản lý thuế mà không bao gồm các khoản nợ thuế, phí, phạt qua truy thu, khoản thanh toán chậm cho việc thanh tra, kiểm tra của CQT.
Khi đánh giá các tiêu chí khác, nhóm này còn bao gồm nhiều khoản nợ có kỳ hạn và mức nợ khác nhau được người nộp thuế báo cáo với cơ quan thuế được ghi nhận vào hồ sơ quản lý người nộp thuế lưu tại CQT + Nợ phạt tiền thuế, phí và tiền chậm nộp: Khi CQT xử phạt thuế, đối với người nộp thuế có hành vi vi phạm pháp luật về thuế, theo Luật Quản lý thuế hiện hành có nhiều loại vi phạm tương ứng với từng hành vi vi phạm. Nội dung vi phạm, tương ứng với số nợ phát sinh từ mỗi hành vi vi phạm. Vì vậy, trong nhóm nợ thuế, tỷ lệ này cũng có thể được chia thành các khoản nợ như: nợ tiền chậm nộp do người nộp thuế kê khai bổ sung điều chỉnh tăng số phải nộp trên tờ khai hoặc do CQT tính và thông báo cho NNT; nợ phạt thiếu thuế phải nộp; nợ phạt chậm nộp tờ khai; nợ phạt vi phạm các quy định về thuế. + Nợ thuế và thu phí phải nộp sau thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật về thuế: Đây là khoản nợ thuế mà sau quá trình thanh tra, kiểm tra CQT phát hiện số thuế phải nộp tăng do đơn vị bỏ ngoài sổ sách, không báo cáo hoặc báo cáo sai các loại hồ sơ khai thuế đã kết thúc kỳ báo cáo thuế trong năm tài chính.
Khi CQT thực hiện thanh tra, kiểm tra, số thuế này phải kê khai, quyết toán theo quy định nhưng có thể đơn vị vô tình hoặc cố ý khai sai dẫn đến thiếu thuế, trốn thuế.