phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề cơ ản về thuế giá trị gia tăng và quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng tại Cục Thuế tỉnh Quảng Trị. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng tại Cục Thuế tỉnh Quảng Trị.min 5 van (Luan.min PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Những vấn đề cơ bản về thuế GTGT 1.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm về thuế GTGT Thuế ra đời và tồn tại cùng với sự xuất hiện và phát triển của Nhà nƣớc, với chức năng chủ yếu huy động nguồn thu đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc, đồng thời thực hiện sự điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thuế giá trị gia tăng ra đời cũng không nằm ngoài hai mục tiêu đó. Để nắm đƣợc nội dung của thuế giá trị gia tăng (GTGT) trƣớc hết ta cần tìm hiểu thế nào là giá trị gia tăng.
Giá trị gia tăng chính là giá trị tăng thêm, là số chênh lệch giữa giá đầu ra và giá đầu vào do đơn vị kinh tế tạo ra trong quá trình sản xuất lƣu thông. Mức chênh lệch này càng cao th đơn vị kinh doanh càng thành công về mặt hiệu quả. Về mặt lý thuyết ngƣời ta có thể biểu thị giá trị gia tăng bằng các đẳng thức sau đây: Giá trị gia tăng = Tiền công + Lợi nhuận Hoặc: Giá trị gia tăng = Giá đầu ra - Giá đầu vào Xuất phát từ nội dung trên đây của giá trị gia tăng khi nghiên cứu về thuế GTGT, các nhà kinh tế đã đƣa ra 4 h nh thức cơ ản của thuế GTGT nhƣ sau: Hình thức thứ nhất: Thuế GTGT đƣợc tính dựa vào phƣơng thức trực tiếp, phƣơng pháp ế toán bằng cách lấy thuế suất (t) nhân (x) với giá trị gia tăng đƣợc biểu thị bằng tiền công cộng (+) với lợi nhuận, cụ thể: Thuế GTGT = Thuế suất (t) x (Tiền công + Lợi nhuận) Hình thức thứ hai: Thuế GTGT đƣợc tính dựa vào phƣơng pháp cộng gián tiếp, tức là không tính trực tiếp vào giá trị gia tăng mà căn cứ vào từng thành phần riêng biệt của nó là tiền công, lợi nhuận, cụ thể: Thuế GTGT = Thuế suất (t) x Tiền công + Thuế suất (t') x Lợi nhuận (Luan.min 6 van (Luan.min Hình thức thứ ba: Thuế GTGT đƣợc tính dựa vào phƣơng pháp trừ trực tiệp hay phƣơng pháp ế toán, cơ sở tính giá trị gia tăng là phần chênh lệch giữa giá đầu ra và giá đầu vào, cụ thể: Thuế GTGT = Thuế suất (t) x (Giá đầu ra - Giá đầu vào) Hình thức thứ tư: Tính thuế GTGT dựa vào phƣơng pháp hấu trừ. Theo phƣơng pháp này thuế GTGT phải nộp đƣợc xác định trên cở sở lấy thuế GTGT đầu ra trừ thuế GTGT đầu vào, cụ thể: Thuế GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra – Thuế GTGT đầu vào Trong bốn hình thức của thuế GTGT nói trên, thì 3 hình thức đầu hầu nhƣ chỉ tồn tại về mặt lý thuyết, còn trong thực tế thƣờng ít đƣợc áp dụng.
Đại bộ phận các nƣớc đã thực hiện thu thuế GTGT đều sử dụng hình thức thứ tƣ tức là dựa vào phƣơng pháp gián tiếp phƣơng pháp hóa đơn do: Phƣơng pháp tính thuế dựa vào hóa đơn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự theo dõi, kiểm tra của cơ quan quản lý và thu thuế. Mặt khác, áp dụng các phƣơng pháp tính thuế dựa trên cơ sở kế toán nhƣ hình thức một và a tuy đơn giản nhƣng hó chính xác nó đ i h i đơn vị kinh doanh phải xác định đƣợc ngay lợi nhuận (trong thực tế việc này diễn ra cần có thời gian nhất định). Trong hi đó h nh thức thứ tƣ ngƣời ta có thể tính nghĩa vụ nộp thuế một cách kịp thời, tính thuế cho từng kỳ có thể hông chính xác nhƣng cho cả một năm tài chính th tƣơng đối chính xác. Từ những hiểu biết về thuế giá trị gia tăng và các hình thức xác định thuế giá trị gia tăng, ta có thể đƣa ra định nghĩa về thuế GTGT nhƣ sau: Thuế giá trị gia tăng (VAT – Value Added Tax hoặc TVA – Taxe sur la Va leur Ajoutee) là một lại thuế gián thu được tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình luân chuyển từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng Bản chất của thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu. Là một loại thuế độc lập nên thuế giá trị gia tăng cũng có những đặc điểm riêng iệt để phân iệt nó với các loại thuế hác nhƣ sau: (Luan.min 7 van (Luan.min - Thuế GTGT là loại thuế gián thu ngƣời nộp thuế là những cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hóa – dịch vụ c n ngƣời chịu thuế là ngƣời sử dụng cuối cùng của hàng hóa dịch vụ này. - Thuế GTGT là loại thuế đánh nhiều giai đoạn nhƣng chỉ vào phần giá trị tăng thêm của từng giai đoạn đó tổng số thu của các giai đoạn ngang bằng với số thuế đầu ra ở khâu tiêu thụ cuối cùng. - Thuế GTGT có tính trung lập cao, bởi lẽ nó là khoản thu thuế cho Nhà nƣớc từ ngƣời mua hàng hóa bằng cách cộng thêm thuế vào giá bán hàng.
- Thuế GTGT thực chất là một sắc thuế đánh vào tiêu dùng hàng hóa dịch vụ đƣợc thu ở khâu bán hàng và nó mang tính lũy thoái cao so với thu nhập. - Thuế GTGT có phạm vi đối tƣợng rất rộng và thƣờng đƣợc xây dựng căn cứ vào công dụng vật chất của sản phẩm, không phân biệt ngƣời mua dùng vào mục đích g. - Thuế GTGT cho phép chống trốn lậu thuế có hiệu quả và tạo ra sự kiểm soát lẫn nhau về thuế. Vai trò của thuế giá trị gia tăng Thuế là công cụ rất quan trọng để Nhà nƣớc thực hiện chức năng quản l vĩ mô đối với nền kinh tế.
Nền kinh tế nƣớc ta đtăng trong quá trình vận hành theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý cuả nhà nƣớc do đó thuế giá trị gia tăng có vai trò rất quan trọng và đƣợc thể hiện nhƣ sau: - Thuế giá trị gia tăng thuộc loại thuế gián thu và đƣợc áp dụng rộng rãi đối với mọi tổ chức cá nhân có tiêu dùng sản phẩm hàng hoá hoặc đƣợc cung ứng dịch vụ nên tạo đƣợc nguồn thu lớn và tƣơng đối ổn định cho ngân sách nhà nƣớc. - Thuế tính trên giá bán tăng hoá hoặc giá dịch vụ nên không phải đi sâu xem xét, phân tích về tính hợp lý, hợp lệ cuả các hoản chi phí, làm cho việc tổ chức quản lý thu tƣơng đối dễ dàng hơn các loại thuế trực thu. - Ðối với hàng xuất hẩu không những không nộp thuế giá trị gia tăng mà còn đƣợc hấu trừ hoặc đƣợc hoàn lại số thuế giá trị gia tăng đầu vào nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm đẩy mạnh xuất hẩu tạo điều iện cho hàng (Luan.min 8 van (Luan.min xuất hẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trƣờng quốc tế. - Thuế giá trị gia tăng cùng với thuế nhập hẩu làm tăng giá vốn đối với hàng nhập hẩu có tác dụng tích cực ảo hộ sản xuất kinh doanh hàng nội địa.
- Tạo điều iện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao. Việc hấu trừ thuế giá trị gia tăng đƣợc thực hiện căn cứ trên hoá đơn mua vào đã thúc đẩy ngƣời mua phải đ i h i ngƣời bán xuất hoá đơn ghi doanh thu đúng với hoạt động mua bán; hắc phục đƣợc tình trạng thông đồng giữa ngƣời mua và ngƣời bán để trốn lậu thuế. Ở khâu bán lẻ thƣờng xảy ra trốn lậu thuế ngƣời tiêu dùng không cần đòi h i hoá đơn vì đối với họ không còn xảy ra việc hấu trừ thuế. Tuy vậy ở khâu bán lẻ cuối cùng, giá trị tăng thêm thƣờng không lớn số thuế thu ở khâu này không nhiều.
- Thuế giá trị gia tăng thƣờng có ít thuế suất ảo đảm sự đơn giản rõ ràng. Với ít thuế suất loại thuế này mang tính trung lập vì về cơ ản không can thiệp sâu vào mục tiêu huyến khích hay hạn chế sản xuất kinh doanh dịch vụ tiêu dùng, theo ngành nghề cụ thể; không gây phức tạp trong việc xem xét từng mặt hàng, ngành nghề có thuế suất chênh lệch nhau nhiều. - Nâng cao đƣợc tính tự giác trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cuả ngƣời nộp thuế. Thông thƣờng trong chế độ kê khai nộp thuế giá trị gia tăng cơ quan thuế tạo điều iện cho cơ sở kinh doanh tự iểm tra, tính thuế kê khai và nộp thuế.
Từ đó tạo tâm lý và cơ sở pháp lý cho đơn vị kinh doanh không phải hiệp thƣơng thoả thuận về mức doanh thu, mức thuế với cơ quan thuế. Việc iểm tra thuế giá trị gia tăng cũng có mặt thuận lợi vì đã uộc ngƣời mua, ngƣời bán phải nộp và lƣu giữ chứng từ hoá đơn đầy đủ nên việc thu thuế tƣơng đối sát với hoạt động kinh doanh từ đó tập trung đƣợc nguồn thu thuế giá trị gia tăng vào ngân sách nhà nƣớc ngay từ khâu sản xuất và thu thuế ở khâu sau còn iểm tra đƣợc việc tính thuế nộp thuế ở khâu trƣớc nên hạn chế thất thu về thuế. - Tăng cƣờng công tác hạch toán ế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hoá có hoá đơn chứng từ; việc tính thuế đầu ra đƣợc hấu trừ số thuế đầu vào là iện (Luan.min 9 van (Luan.min pháp kinh tế góp phần thúc đẩy cả ngƣời mua và ngƣời bán cùng thực hiện tốt hơn chế độ hoá đơn chứng từ. - Việc hấu trừ thuế đã nộp ở đầu vào còn có tác dụng huyến khích hiện đại hoá, chuyên môn hoá sản xuất tăng cƣờng đầu tƣ mua sắm trang thiết ị mới để hạ giá thành sản phẩm.
- Thuế giá trị gia tăng đƣợc ban hành gắn liền với việc sửa đổi ổ sung một số loại thuế khác nhƣ thuế tiêu thụ đặc iệt thuế xuất nhập hẩu…góp phần làm cho hệ thống chính sách thuế của Việt Nam ngày càng hoàn thiện phù hợp với sự vận động và phát triển cuả nền kinh tế thị trƣờng tƣơng đồng với hệ thống thuế trong khu vực và trên thế giới góp phần đẩy mạnh việc mở rộng hợp tác kinh tế và thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài vào Việt Nam.