chương 1 đã giới thiệu tổng quát về đề tài, chương 2 sẽ trình bày các nội dung như lý thuyết về kinh doanh cơ bản của NHTM, làm rõ các khái niệm về lợi nhuận ngân hàng,tín dụng, đánh giá lợi nhuận cuả các NHTM, vai trò tín dụng đối với NHTM, các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của NHTM như rủi ro ngân hàng, quy mô, chi phí hoạt động, tỷ lệ lạm phát, tăng trưởng kinh tế. Trong chương 2 trình bày về những công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên quan đến đề tài.1 Hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM: Ngân hàng có cả chức năng nhận tiền gửi và tạo ra các khoản vay (Choudhry, 2011), đây là tính năng giúp phân biệt giữa ngân hàng với các loại hình trung gian tài chính khác. Casu cùng nhóm nghiên cứu (2006) cho rằng các ngân hàng đóng vai trò trung gian giữa ngƣời vay và ngƣời gửi tiền tiết kiệm. Theo Luật Các Tổ chức Tín dụng số 47/2010/QH12 ban hành tại Việt Nam ngày 16/6/2010, ngân hàng đƣợc định nghĩa là một loại hình tổ chức tín dụng có thể đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng, bao gồm nhận tiền gửi và cấp tín dụng.
Ngân hàng thƣơng mại là đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nƣớc. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Các khoản tiền gửi là tài sản nợ của ngân hàng. Các khoản tiền này có hai dạng.
Thứ nhất là tài khoản vãng lai (ở Mỹ gọi là tài khoản séc). Đối với loại tài khoản này, ngƣời ta có thể ghi séc và các khoản tiền có thể đƣợc rút ra ngay lập tức theo yêu cầu. Thứ hai là tài khoản tiền gửi hay tài khoản tiết kiệm. Một số tài khoản tiền gửi đòi hỏi phải có thời gian thông báo trƣớc khi tiền có thể đƣợc rút ra: những 8 tài khoản này đƣợc gọi là tài khoản tiền gửi có kỳ hạn hay tài khoản thông báo trƣớc.
NHTM trả lãi cho các khoản tiền huy động. Lãi suất trả cho những tài khoản có kỳ hạn cao hơn so với các tài khoản vãng lai, tức là những tài khoản mà tiền có thể đƣợc rút ngay lập tức. Tiền gửi có thể đƣợc chia làm hai loại: tiền gửi có thể viết chi phiếu và tiền gửi không giao dịch. Tiền gửi có thể viết chi phiếu (còn gọi là tiền gửi giao dịch) là các tài khoản ngân hàng cho phép ngƣời gửi rút tiền hoặc chuyển tiền sang tài khoản khác theo yêu cầu.
Nhờ khả năng thanh toán bằng tiền mặt của các tài khoản này, chủ tài khoản sẵn sàng chấp nhận lãi suất thấp. Do đó, tiền gửi có thể viết chi phiếu là nguồn chi ít nhất của tài chính ngân hàng (Burton & Brown, 2009). Bên cạnh đó, tiền gửi không giao dịch, bao gồm tài khoản tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn, chiếm tỉ lệ quan trọng đối với tài chính ngân hàng. Do ngƣời gửi không đƣợc viết phiếu chi cho các tài khoản tiết kiệm và tài khoản có kỳ hạn nên lãi suất chi đối với tiền gửi không giao dịch sẽ cao hơn so với tiền gửi giao dịch (Singh & Dutta, 2013).
Sau đó, NHTM dùng tài sản có này để cấp tín dụng dƣới các hình thức cho vay, chiết khấu thƣơng phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác. NHTM đƣợc bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng. NHTM đƣợc chiết khấu thƣơng phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức, cá nhân. Tái chiết khấu thƣơng phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các TCTD khác.
Khác khoản cấp tín dụng là tài sản có của ngân hàng. Phần lớn các tài sản nợ của ngân hàng đều có kỳ hạn ngắn hơn và lãi suất cao hơn so với tài sản có. Các khoản cho vay chiếm hơn một nửa tổng tài sản và là loại hình tài sản ngân hàng lớn nhất. Theo Mishkin và Eakins (2012), các ngân hàng tạo ra lợi nhuận chủ yếu nhờ bán các khoản cho vay.
Các ngân hàng kiếm lợi nhuận từ mức chênh lệch giữa lãi suất phải trả và lãi suất nhận đƣợc. 9 NHTM cung cấp hoạt động thanh toán và ngân quỹ. NHTM đƣợc cung ứng các phƣơng tiện thanh toán. Các NHTM cung cấp dịch vụ thanh toán thông qua hệ thống thanh toán bù trừ bằng cách phối hợp để thanh toán, các ngân hàng giúp cá nhân và công ty thực hiện các giao dịch.
Ngân hàng thu phí từ các hoạt động ngân quỹ, dịch vụ thu hộ và chi hộ. Ngoài ra, các NHTM tạo ra lợi nhuận từ việc mua bán chứng khoán, bảo hiểm thông qua tài trợ bởi các công ty tài chính, quỹ tƣơng hỗ, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm.2 Khái niệm lợi nhuận của NHTM: Thái Văn Đại (2014) cho rằng, cũng nhƣ một doanh nghiệp, lợi nhuận phản ánh khả năng sinh lời của NHTM và nó đƣợc quyết định bởi mức lãi thu đƣợc từ các khoản cho vay và đầu tƣ, bởi nguồn thu từ hoạt động dịch vụ, bởi quy mô, chất lƣợng và thành phần của các tài sản có. Lợi nhuận của một ngân hàng đƣợc tính bằng sự chênh lệch giữa thu và chi của ngân hàng đó. Lợi nhuận ngân hàng = Thu – chi Các khoản chi từ nợ phải trả thƣờng là các chi phí phát sinh trong hoạt động ngân hàng, gồm thanh toán lãi suất từ nợ phải trả, chủ yếu là tiền gửi, và các khoản chi không lãi suất khác nhƣ các khoản cho vay để bù lỗ, chi phí vận hành và thuế.
Các khoản thu xuất phát từ khía cạnh tài sản của bảng cân đối kế toán, bao gồm thu nhập từ lãi trên tài sản, cụ thể là các khoản cho vay, và thu nhập không lãi, gồm thu nhập từ các khoản đầu tƣ, lệ phí và tiền hoa hồng khác (Casu cùng nhóm nghiên cứu, 2006).3 Đánh giá và đo lƣờng hiệu quả hoạt động ngân hàng: Lợi nhuận ròng là con số giúp các cổ đông nắm bắt đƣợc hiệu quả hoạt động của một ngân hàng vào cuối năm kế toán, bởi nó phản ánh số tiền ngân hàng đó giữ 10 lại đƣợc thông qua lợi nhuận chƣa phân phối hay chi trả cổ tức. Mặc dù vậy, vẫn có một giới hạn nhất định về số liệu lợi nhuận ròng. Rất khó có thể dùng lợi nhuận ròng làm phƣơng thức so sánh hiệu suất và hiệu quả giữa các ngân hàng với nhau bởi nó không đƣợc điều chỉnh theo quy mô ngân hàng. Phƣơng thức thông dụng nhất để đo lƣờng lợi nhuận ngân hàng và có thể khắc phục những hạn chế của lợi nhuận ròng là thông qua hệ số thu nhập trên tài sản (ROA) và hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE) (Mishkin & Eakins, 2012).
Các chỉ số lành mạnh tài chính (FSIs) là nhóm chỉ số do nhóm nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã xây dựng một khung chuẩn mực quốc tế với 12 lĩnh vực cần đƣợc đánh giá trong hệ thống tài chính, theo đó đánh giá khu vực ngân hàng đƣợc tiến hành trên các nguyên tắc giám sát cơ bản của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng hiệu quả. Trong FSIs, nhóm đánh giá về thu nhập và lợi nhuận ngân hàng bao gồm 2 chỉ tiêu là: Lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). ROA cho biết quản lý ngân hàng đã sử dụng tổng số tài sản (khoản vay và khoản đầu tƣ) tạo ra thu nhập tốt đến mức nào, hoặc bao nhiêu lợi nhuận đƣợc tạo ra từ mỗi đồng đô la trong tài sản. (Center for Financial Training, 2010) Mặc dù ROA cung cấp thông tin hữu ích về lợi nhuận của ngân hàng nhƣng nó không phải chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận mà chủ sở hữu ngân hàng quan tâm phần lớn.
Họ quan tâm nhiều hơn về số tiền mà ngân hàng thu đƣợc từ đầu tƣ vốn cổ phần của họ đƣợc đo bằng lợi nhuận trên vốn cổ phần ROE (Mishkin, 2012). ROE cho thấy ngân hàng kiếm đƣợc bao nhiêu lợi nhuận so với vốn cổ phần của các cổ đông (Petkovski, 2009). ROE chính là chỉ số phản ánh hiệu quả của vốn chủ sở hữu, đo lƣờng hiệu quả đầu tƣ của vốn chủ sở hữu, phản ánh đƣợc khả năng tạo ra đƣợc lợi nhuận từ một đồng vốn mà nhà đầu tƣ đầu tƣ vào ngân hàng và luôn nhận đƣợc sự quan tâm rất lớn từ các nhà đầu tƣ ( Lê Tấn Phƣớc, 2016) 11 Việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM thông qua tỷ số ROE phải đƣợc xem xét qua nhiều thời kỳ khác nhau để thấy đƣợc xu hƣớng phát triển và quy luật vận động của chúng. Ngoài ra, việc nghiên cứu còn phải dựa vào thực tiễn hoạt động của chính ngân hàng đang phân tích, đi sâu vào từng bộ phận cấu thành chỉ tiêu phân tích, từ đó dễ dàng xác định nguyên nhân tăng giảm của các chỉ tiêu, từ đó dễ dàng tìm ra các biện pháp phù hợp (Thái Văn Đại, 2014).
ROE thƣờng đƣợc biểu diễn dƣới hai dạng, bao gồm dạng cơ bản và dạng mở rộng. Tùy vào mục đích phân tích mà sử dụng dạng thức cho phù hợp. Tuy nhiên, cả hai dạng này đều bắt nguồn từ việc triển khai chỉ tiêu ROE (tỷ lệ lợi nhuận/vốn chủ sở hữu). Dupont đƣợc triển khai dƣới dạng cơ bản: Hay Nhƣ vậy, qua khai triển chỉ tiêu ROE có thể thấy chỉ tiêu này đƣợc cấu thành bởi ba yếu tố chính.
Thứ nhất là tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu - Đây là yếu tố phản ánh trình độ quản lý doanh thu và chi phí của ngân hàng. Thứ hai là, vòng quay toàn bộ vốn (vòng quay tài sản) - Đây là yếu tố phản ánh trình độ khai thác và sử dụng tài sản của ngân hàng. Thứ ba là, hệ số vốn/vốn chủ sở hữu (hệ số 12 nợ) - Đây là yếu tố phản ánh trình độ quản trị tổ chức nguồn vốn cho hoạt động của ngân hàng. ROE giúp chúng ta hiểu lợi nhuận những cải tiến đạt đƣợc thông qua cải tiến trong yếu tố liên quan đến lợi nhuận nhƣ tinh giản quản lý, tăng cƣờng thu nhập lãi cho vay, và tăng phí kinh doanh.
Đây là điều mà hệ thống ngân hàng Việt Nam đang hƣớng đến. Do đó, ROE là chỉ tiêu đƣợc sử dụng để đánh giá lợi nhuận của các NHTM Việt Nam trong bài luận văn.