Luận văn: Pháp luật doanh nghiệp công ở các nước đang phát triển và bài học cho VN

Nghiên cứu pháp luật doanh nghiệp công tại các nước đang phát triển, rút ra bài học kinh nghiệm và kiến nghị hoàn thiện pháp luật cho Việt Nam.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nộ - Khoa Luật

Chuyên ngành

Pháp luật Kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2003

75
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và đặc điểm của Doanh nghiệp công ở các nước đang phát triển

Doanh nghiệp công là những tổ chức kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước hoặc do Nhà nước kiểm soát và chỉ đạo. Khái niệm này có những tên gọi khác nhau tùy theo từng quốc gia và thời kỳ phát triển. Ở các nước XHCN trước đây, người ta thường gọi là xí nghiệp quốc doanh, trong khi các nước phát triển theo chế độ tư bản chủ nghĩa sử dụng thuật ngữ doanh nghiệp công công (public enterprises) hoặc doanh nghiệp thuộc sở hữu công. Những thay đổi về tên gọi này phản ánh sự biến đổi trong chính sách kinh tế và định hướng phát triển của từng nước. Đặc điểm cơ bản của loại hình doanh nghiệp này bao gồm: sở hữu vốn nhà nước, mục tiêu phục vụ lợi ích công cộng, chịu sự quản lý và giám sát của nhà nước, và có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.

1.1. Nguồn sơ hình thành doanh nghiệp công

Nguồn sơ hình thành doanh nghiệp công xuất phát từ nhu cầu kiểm soát các ngành chiến lược, phát triển các ngành công nghiệp quan trọng, và thực hiện các chính sách phúc lợi xã hội. Ở Trung Quốc, từ năm 1950 đến cuối những năm 70 của thế kỷ XX, các doanh nghiệp công được hình thành thông qua việc quốc hữu hóa các doanh nghiệp tư nhân và xây dựng khu vực kinh tế nhà nước. Tại các nước khác như Thái Lan, Malaysia, Philippin, các doanh nghiệp công được thành lập nhằm phát triển hạ tầng, năng lượng, và các ngành công nghiệp cơ bản.

1.2. Vai trò của doanh nghiệp công trong phát triển kinh tế

Doanh nghiệp công đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế và phát triển bền vững. Chúng thực hiện các dự án có quy mô lớn mà doanh nghiệp tư nhân không khả năng thực hiện, cung cấp dịch vụ công ưu tiên, tạo công ăn việc làm, và góp phần tái phân phối tài nguyên xã hội. Vai trò này đặc biệt quan trọng ở các nước đang phát triển nơi thị trường chưa hoàn thiện.

II. Pháp luật về Doanh nghiệp công ở một số nước đang phát triển

Các nước đang phát triển đã xây dựng hệ thống pháp luật về doanh nghiệp công khá hoàn chỉnh với những khác biệt đáng chú ý. Nguồn pháp luật bao gồm: Hiến pháp, các luật chuyên biệt, các sắc lệnh, quy định của chính phủ, và các quy chế nội bộ của doanh nghiệp. Trung Quốc sử dụng Luật Công ty và các luật chuyên biệt để điều chỉnh các doanh nghiệp công. Thái Lan, Malaysia, Philippin sử dụng các luật riêng biệt hoặc kết hợp giữa luật công ty chung và các quy định đặc thù. Các quốc gia này đều đặt vấn đề sở hữu, kiểm soát và quản lý doanh nghiệp công như những nội dung trọng tâm của pháp luật.

2.1. Các quy định về thành lập và giải thể doanh nghiệp công

Thành lập doanh nghiệp công đều phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tuân thủ quy trình pháp lý được quy định. Trung Quốc yêu cầu phê duyệt của các cơ quan có thẩm quyền và đăng ký với bộ phận quản lý công nghiệp. Giải thể doanh nghiệp công cũng phải tuân theo các thủ tục pháp lý nghiêm ngặt, bao gồm quyết định của cơ quan chủ quản, thực hiện thanh lý tài sản, và giải quyết các khoản nợ.

2.2. Cơ chế quản lý nội bộ doanh nghiệp công

Cơ chế quản lý nội bộ của doanh nghiệp công bao gồm: Hội đồng quản lý (Board of Directors), Ban Giám đốc, và Hội đồng Giám sát. Trung Quốc thiết lập Hội đồng Quản lý để quyết định các vấn đề chiến lược và Ban Giám đốc điều hành hoạt động hàng ngày. Các nước ASEAN áp dụng mô hình tương tự nhưng với sự tách biệt rõ ràng giữa chức năng quyết định và giám sát.

III. Quản lý nhà nước đối với Doanh nghiệp công

Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp công là yếu tố then chốt để đảm bảo hiệu quả kinh doanh và đạt được mục tiêu xã hội. Ở Trung Quốc, quản lý nhà nước được thực hiện thông qua các cơ quan chuyên trách như Ủy ban Quản lý Tài sản Nhà nước, có trách nhiệm thanh tra, giám sát, đánh giá kết quả kinh doanh. Ở Thái Lan, Malaysia, Philippin, quản lý nhà nước bao gồm: giám sát tài chính, kiểm toán độc lập, báo cáo thường kỳ, và tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về quản trị công ty. Mục tiêu quản lý bao gồm: đảm bảo hiệu quả kinh doanh, tính minh bạch, chống tham nhũng, và bảo vệ quyền lợi các bên liên quan.

3.1. Giám sát tài chính và kiểm toán doanh nghiệp công

Giám sát tài chính được thực hiện thông qua các báo cáo tài chính thường kỳ, kiểm toán độc lập, và thanh tra của cơ quan nhà nước. Các nước đều yêu cầu doanh nghiệp công công khai các báo cáo tài chính, chịu sự kiểm toán bắt buộc, và báo cáo định kỳ về kết quả kinh doanh. Việc công khai thông tin tài chính giúp tăng tính minh bạch và niềm tin của công chúng.

3.2. Xác định mục tiêu và hiệu quả kinh doanh

Xác định mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp công bao gồm: mục tiêu tài chính (lợi nhuận, lợi suất vốn) và mục tiêu xã hội (cung cấp dịch vụ công, bảo vệ môi trường). Cơ quan chủ quản phải đánh giá hiệu quả dựa trên các chỉ số hiệu suất được thiết lập trước, đảm bảo sự cân bằng giữa lợi ích kinh tế và trách nhiệm xã hội.

IV. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về Pháp luật Doanh nghiệp công

Từ việc nghiên cứu pháp luật doanh nghiệp công ở các nước đang phát triển, Việt Nam có thể rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu. Thứ nhất, cần xác định rõ tên gọi và khái niệm thống nhất cho doanh nghiệp nhà nước trong toàn bộ hệ thống pháp luật. Thứ hai, cần xây dựng pháp luật toàn diện bao gồm các quy định về thành lập, giải thể, quản lý nội bộ, và quản lý nhà nước. Thứ ba, phải đảm bảo tính bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nướcdoanh nghiệp tư nhân trước pháp luật. Thứ tư, cần tăng cường minh bạch thông qua công khai thông tin tài chính, kiểm toán độc lập, và báo cáo định kỳ. Cuối cùng, phải nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật thông qua đào tạo cập nhật kiến thức pháp luật cho cán bộ quản lý.

4.1. Hoàn thiện khung pháp lý về Doanh nghiệp nhà nước

Việt Nam cần xây dựng Luật Doanh nghiệp nhà nước toàn diện, bao gồm các quy định chi tiết về: sở hữu vốn nhà nước, cơ cấu quản lý nội bộ, quyền và nghĩa vụ của nhân viên và quản lý, quản lý tài sản, báo cáo tài chính, và giải thể doanh nghiệp. Pháp luật phải rõ ràng, nhất quán với các luật khác, và phù hợp với thực tiễn kinh tế Việt Nam.

4.2. Kiến nghị chính sách và áp dụng pháp luật

Cần rà soát lại chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước để phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phải tạo môi trường cạnh tranh công bằng, nâng cao hiệu quả kinh doanh, giảm thiểu tham nhũng, và tăng cường quản lý nhà nước một cách khoa học. Đồng thời, cần đào tạo cán bộ để hiểu rõ và áp dụng đúng các quy định pháp luật.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Những van dé chung về đoanh nghiệp công ở các nước dang, phát triển. Chương II: Pháp luật về doanh nghiệp công ở một số nước đang phát triển. Chương II: Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Luận văn được hoàn thánh với sự hưởng dẫn khoa học của Phó Giáo sư, Tiển sĩ Nguyễn Như Phát, cùng sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, bạn bẻ, gia đình và đồng nghiệp trong quá trình thu thập lài liệu, dịch thuật tài liệu, cũng như động viên tỉnh than, góp ý kiến cho nội dung và hình thứ của bản luận văn. Tác giả xin trân trọng cảm ơn sự giúp đổ tận tỉnh và quý bản đó.

Kinh mong tiếp tục nhân duoc +kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn quan tâm để chúng tôi có thể sửa chữa, bố sung những nội dung còn ẳ Ly ot bead: 4 - 32 TUẠn suy khiếm khuyêt và hoàn thiện hơn nữa nội dung của luận văn. ca Heng Loong Cheong; "Cai cach doanh nghiép nha nude ở Trung Quốc, so sánh với Việt Nam" của Viện kinh tế thể giới hay một số bài viết có dé cập một số nội dung liên quan đến các vấn đề về Luật kinh tế, pháp luật về doanh nghiệp nhà nước của các tác giả: Nguyễn Như Phát, Phạm Duy Nghia, Nguyễn Minh Mẫn, Võ Đại Lược, Trần Du Lịch. Tuy nhiên, nội dung ma các tác giả đề cập chủ yếu là những vẫn để lý luận chung nhất về doanh nghiệp công, piới thiệu những kinh nghiệm của một số nước hay những quy định của pháp luật của các nước mà chưa có sự so sánh một cách cụ thể đối với từng nhóm vấn để, từng chế định giữa quy đinh của pháp luật một số nước đang phát triển với những nội dung tương tự của Việt Nam, để từ đó đưa ra những kết luận có tính hệ thống và nêu lên những kiến nghị cụ thể Đối tượng va pham vi nghiên cứu: Số lượng các quốc gia thuộc nhóm các nước dang phát triển rất nhiều, các văn bản pháp luật có liên quan dến doanh nghiệp công hết sức da dạng nên quá trình nghiền cứu không thể dễ cập một cách dầy dũ và toàn điện tất cả các nước và các nội dung có liên quan. Do đó, chúng tôi lựa chọn, nghiên cứu pháp luật về doanh nghiệp công của một số nước đang phát triển là Trung Quốc va 3 nude ASEANS: Malaysia, Thai Lan, Philippin va duoc chia lam 2 nhóm đối tượng so sánh độc lập, đó lả 1) Trung Quốc: là một nước đang phát triển, đi theo con đường xây dụng chủ nghĩa xã hôi, là nước láng giểng và có những ảnh hưởng nhất định đổi với nước ta.

Lịch sử tôn tại, phát triển của các doanh nghiệp công ở Irung Quấc cả về chính sách phát triển cũng như các quy định của pháp luật Trung Quốc đối với doanh nghiệp vông có nhiễu điểm tương đồng với Việt Nam, Quá trình câi cách đoanh nghiệp công ở ‘Trung Quốc trong thời gian qua dã cho thay nhiều bài học thành công. Do đó, lựa chọn nghiên cửu pháp luật về doanh nghiệp công của 1rung Quốc là một trọng tâm của luận văn. 2) Malaysia, Thái Lan, Philippin: là những nước thuộc khối ASEARS ma Việt Nam cũng là một thành viên. Quá trỉnh hội nhập kimh tế khu vực, hướng tới một cộng đồng kinh tế ASEAXNS trơng một tương lại gần, dặt ra Chuong 1 NHONG VAN DE CHUNG VE DOANH NGHIEP CONG Ở MỘT SỐ NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 1.1 Các quan niệm khác nhau về doanh nghiệp công.1 Về tên gọi "Doanh nghiệp công”.

Khi nghiên cứu về cáo đoanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, nhiều học giả ở các nước cũng như ở Việt Nam thường nêu ra các quan niệm rất khác nhau về bản thân tên gợi cũng như về khái niệm, đặc điểm cơ bản của loại hinh doanh nghiệp này. Iliện tượng này do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ những định hướng phát triển kinh tế, phát triển đoanh nghiệp. của mỗi nước và những thay đổi trong chính sách đối với doanh nghiệp trong từng thời kỷ. Tên gọi của loại hình doanh nghiệp nảy dã có rất nhiều thay đổi Ô các nước dang phát triển thuộc khối các nước XHƠN (trước dây), người ta hay ding thuật ngữ “xí nghiệp quốc doanh”, "xí nghiệp công nghiệp thuộc sở hữu toàn dân", “doanh nghiệp quốc doanh”, "đoanh nghiệp nhà nướ: Trong khi đó, ở các nước đang phát triển theo chế độ tư bản chủ nghĩa, lại thường sử dụng thuật ngữ “doanh nghiệp công”.

"doanh nghiệp công công" (public enterprises) hoặc là "doanh nghiệp thuộc sở hữu công” (public-owned enterprises), “doanh nghiệp Chính phủ”. Tìm hiểu về lịch sử tôn tại, phát triển của doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước ở một số nước đang phát triển cho thấy rõ điều đó. Xin lấy ví dụ từ trường hợp Trung Quốc và Việt Nam để minh hoa. Ở Trang Quốc, cùng với những thay đổi về chính sách và các quy định của pháp luật thi tên gợi của các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước đã thay đổi qua ba giai đoạn chủ yếu sau đây: - Từ năm 1950 đến cuối những năm 70 của thế ky XX, dy 14 giai đoạn hình thành khu vực kinh tế Nhà nước ở Trưng Quốc, căn cử vào cấu trúc về MỞ ĐẦU Tĩnh cấp thiết của đẻ tài: 'Trong nền kimh tế của nhiều nước đang phát triển thì khu vực kinh tế hả nước luôn được xác định là một bộ phận giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Thả nước không chỉ điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua chính sách phát triển kinh té — xã hội, các quy định của pháp luật hoặc qua các định chế như ngân hàng nhà nước, kho bạc nhà nước, thị trường chứng khoán.v mà trong nhiêu trường hợp và ở những giai đoạn phát triển nhất định Nhà nước còn tham gia trực tiếp vào các hoạt động sân xuất kinh doanh với tư cách là một nhà đầu tư, tham gia góp vến để tễ chức các doanh nghiệp (Nhà nước là chủ sở hữu doanh nghiệp) hoặc bằng các công cụ mang lính quyền lực Nhà nước để kiểm soái, chỉ phối, can thiệp vào các doanh nghiệp hoạt động trong những ngảnh, lĩnh vực nào đó vì lợi ích của quốc gia, lợi ích công công (cho đủ Nhà nước không phải là chủ sở hữu đoanh nghiệp hoặc không phải là cỗ đông lớn nhât). Ở nước ta hiện nay, Đẳng và Nhà nước đang thực hiện nhiều chủ trương và biện pháp dễ sắp xếp, dỗi mới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt dộng của các doanh nghiệp nhà nước, trong đó có một biện pháp rất quan trọng là tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về doanh nghiệp Nhà nước, Mặt khác trong bối cảnh nên kinh tế của đất nước đang từng bước hội nhập vào niên kinh tế thế giới và khu vực, do đó, việc nghiên cứu tim hiểu các quy định về doanh nghiệp của các quốc gia trên thể giới, nhất là các nước dang phát triển là một yêu cầu cấp thiết, nhằm rút ra những bải học kinh nghiém, pop phan cung cấp thêm luận cứ khoa học và thực tiễn cho hoạt động. xây dựng và hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp nhà nước của nước ta. Khi đề cập đến loại hình doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà nước hoặc do Nhà nước kiểm soá chỉ phối, ở các nước đang phát triển thường có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm, đặc điểm, phân loại cũng như ngay bản thân tên gọi của chúng.

Có nhiều tên goi như: xí nghiệp quốc doanh, xí quyền sở hữu, có 3 tên gọi: xí nghiệp nhà nước (sizte enterprises) va xi nghiép công tư hợp doanh (state-private joint enterprises } - Trong những năm 80 của Thé ky XX - day là giai doạn Trang Quốc bắt đầu thục hiện chính sách cải cách, mở cửa; với sự ra đời của Luật xí nghiệp công nghiệp thuộc sở hữu toàn dân, loại hình đoanh nghiệp này có tên gọi là xí nghiệp công nghiệp quốc đoanh. - Thời kỳ từ năm 1993 đến nay, tên gọi thường được sử dụng để chỉ loại hình doanh nghiệp nảy, đó là: Doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước (State Owned Enterprises - SOHs ), Sự thay đổi về tên gợi của các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước cũng diễn ra tương tự ở Việt Nam. - Từ năm 1948, với Sắc lệnh số 104-SL ngày 1/1/1948 của Chủ tịch Hồ Chi Minh, các doanh nghiệp này được gọi lá doanh nghiệp quốc gia. - Thời kỷ từ 1954 dến trước năm 1995, có rất nhiều tên gọi như: xí nghiệp quốc doanh, xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, doanh nghiệp quốc doanh - Tử sau Dại hội lần thứ VII của Dáng Cộng sản Việt Nam, cùng với việc khẳng định tài sin do các xí nghiệp quốc doanh quản lý thuộc sở hữu Nhà nước thì các xi nghiệp quốc doanh cũng thống nhất được gọi là cáu “doanh nghiệp Khả nước”.

Năm 1995, Luật doanh nghiệp nhà nước ra dời, lần đầu tiền tên gøi doanh nghiệp nhả nước được sử dụng chính thức trong các văn bản pháp lý. Còn tên gọi đoanh nghiệp công được sử dụng khả nhiều trong các tài liệu của một số học giả khi nghiên cứu về các doanh nghiệp thuộc sở hữu của hà nước hoặc có phần vốn của Nhà nước mà tỷ lệ vốn đủ để Nhà nước có thể chỉ phối, kiểm soát doanh nghiệp, hay nói cách khác Nha nước với tư cách chủ sở hữu có khả năng (theo luật định) để có thể áp đặt các mục tiêu và phương thức quân lý đối với doanh nghiệp. ca Heng Loong Cheong; "Cai cach doanh nghiép nha nude ở Trung Quốc, so sánh với Việt Nam" của Viện kinh tế thể giới hay một số bài viết có dé cập một số nội dung liên quan đến các vấn đề về Luật kinh tế, pháp luật về doanh nghiệp nhà nước của các tác giả: Nguyễn Như Phát, Phạm Duy Nghia, Nguyễn Minh Mẫn, Võ Đại Lược, Trần Du Lịch. Tuy nhiên, nội dung ma các tác giả đề cập chủ yếu là những vẫn để lý luận chung nhất về doanh nghiệp công, piới thiệu những kinh nghiệm của một số nước hay những quy định của pháp luật của các nước mà chưa có sự so sánh một cách cụ thể đối với từng nhóm vấn để, từng chế định giữa quy đinh của pháp luật một số nước đang phát triển với những nội dung tương tự của Việt Nam, để từ đó đưa ra những kết luận có tính hệ thống và nêu lên những kiến nghị cụ thể Đối tượng va pham vi nghiên cứu: Số lượng các quốc gia thuộc nhóm các nước dang phát triển rất nhiều, các văn bản pháp luật có liên quan dến doanh nghiệp công hết sức da dạng nên quá trình nghiền cứu không thể dễ cập một cách dầy dũ và toàn điện tất cả các nước và các nội dung có liên quan.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ