Chương 1. Cơ sở pháp lý về hành vi bán phá giá và biện pháp chống bán phá giá. Thực trạng pháp luật về chống bán phá giá khi Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới. Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật chống bán phá giá khi Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ KHI VIỆT NAM HỘI NHẬP 1. Khái quát chung về hoàn thiện pháp luật chống bán phá giá khi Việt Nam hội nhập 1. Cơ sở pháp lý về chống bán phá giá 1. Khái niệm về hành vi bán phá giá: Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Bán phá giá tổng hợp những biện pháp bán hạ giá một số mặt hàng xuất khẩu nào đó để cạnh tranh nhưng có hiệu quả với những bạn hàng khác trên thị trường thế giới”1; Theo Từ điển Cambridge thì bán phá giá là bán hàng hóa giá rẻ hơn giá bán của các công ty ở quốc gia khác nhằm cạnh tranh không lành mạnh “The practice of selling goods in another country so cheaply that companies in that country cannot compete fairly”2 hay theo Investopedia thì bán phá giá xảy ra khi một quốc gia hoặc công ty xuất khẩu một sản phẩm với giá ở thị trường nhập khẩu nước ngoài thấp hơn giá ở thị trường nội địa của nhà xuất khẩu “Dumping is a term used in the context of international trade.
It's when a country or company exports a product at a price that is lower in the foreign importing market than the price in the exporter's domestic market. Because dumping typically involves substantial export volumes of a product, it often endangers the financial viability of the product's manufacturer or producer in the importing nation” 3. Theo các khái niệm về bán phá giá, có thể hiểu “Bán phá giá” là hành động bán một hàng hóa thấp hơn với giá hiện hành của mặt hàng đó trên thị trường, làm cho những hàng hoá khác hạ giá bán. Khái niệm bán phá giá đều được đa số các quốc gia thống nhất nhìn nhận là 1 Từ điển Tiếng Việt, https://vtudien.com/viet-viet/dictionary/nghia-cua-tu- b%C3%A1n%20ph%C3%A1%20gi%C3%A1, truy cập ngày 10/6/2021 2 Cambride Dictionary, https://dictionary.org/vi/dictionary/english/dumping, truy cập ngày 10/6/2021 3 Investopedia, https://www.com/terms/d/dumping.asp, truy cập ngày 10/6/2021 12 hành vi “phân biệt giá quốc tế”.
Lý thuyết này dựa trên lý thuyết chung về hành vi phân biệt giá. Có thể hiểu đây là hành vi tạo sự khác biệt về giá cả trong các giao dịch tương tự và luôn luôn được xem xét trên bình diện thương mại quốc tế, trong mối quan hệ thương mại giữa các quốc gia với nhau. Theo Từ điển kinh tế học hiện đại thì “Bán phá giá được hiểu là việc bán một hàng hoá ở nước ngoài với mức giá thấp hơn so với mức giá ở thị trường trong nước”4. Theo Từ điển chính sách thương mại thì “Phá giá được hiểu là thực tiễn bán hàng của một Công ty với giá bán ra nước ngoài thấp hơn giá bán tại thị trường trong nước”5.
Theo Black’s Law Dictionary định nghĩa “Phá giá là hành vi bán hàng hoá ra nước ngoài với giá thấp hơn giá bán tại thị trường nội địa”6. Dưới góc độ pháp lý, khái niệm bán phá giá lần đầu tiên được ghi nhận trong đạo luật thuế hải quan Canada năm 1904; tiếp sau đó New Zealand và Úc cũng ban hành pháp luật về chống bán phá giá vào năm 1905 và 1906. Mặc dù còn có những quan điểm khác nhau, song pháp luật các nước đều coi đây là một trong những hành vi thương mại không lành mạnh. Khi chống bán phá giá đã trở thành một nội dung quan trọng trong pháp luật thương mại quốc tế thì khái niệm bán phá giá cũng được ghi nhận tại Điều VI Hiệp định chung về thuế quan và thương mại7 (GATT) năm 1994 và trong Hiệp định thực thi Điều VI của GATT 19948 (ADA) của Tổ chức thương mại thế giới (WTO).1 của ADA quy định: “Trong phạm vi Hiệp định này, một sản phẩm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác với giá thấp hơn trị giá thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo 4 David W.Pearce (2010), Từ điển kinh tế học hiện đại, NXB.
Chính trị Quốc gia, tr. 5 Mutrap (2003), Từ điển chính sách thương mại, tr. Garner (2005), Black’s Law dictionary, tr. 6 7 Điều VI GATT 1994.
8 Hiệp định về chống bán phá giá (ADA). 13 các điều kiện thương mại thông thường”. Cách hiểu đơn giản hơn cho khái niệm này là: nếu có một sản phẩm A của nước A xuất sang thị trường nước B với giá X và một sản phẩm A’ tương tự như sản phẩm A được bán ở thị trường trong nước A với giá Y; và X < Y thì sản phẩm đó được xem là bán phá giá từ nước A sang nước B. Có thể thấy, hành vi bán phá giá được xem là hành vi của tự bản thân các doanh nghiệp của một quốc gia nào đó đưa vào kinh doanh trên thị trường một quốc gia khác hàng hóa của mình với mức giá thấp hơn giá trị thị trường của sản phẩm 1.
Cách xác định hành vi bán phá giá: Căn cứ để xác định việc có hay không sự phân biệt giá là tiến hành so sánh giá xuất khẩu và giá trị thông thường của hàng hóa nhập khẩu. Giá xuất khẩu được xác định là giá bán vào thị trường nhập khẩu. Giá trị thông thường không phải là giá nội địa của hàng hóa bị điều tra mà là giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu. Giá thông thường được hiểu là “mức giá chuẩn” mà các doanh nghiệp áp dụng cho các giao dịch mua bán trên thị trường nước xuất khẩu.
Doanh nghiệp xuất khẩu đã có động cơ bán phá giá nhằm tạo lợi thế cạnh tranh về giá trên thị trường nhập khẩu 9. Tuy nhiên, kết quả so sánh hai chỉ số giá trên chưa phản ánh ưu thế cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu so với hàng hóa nội địa của nước nhập khẩu mà chỉ cho thấy hiện tượng phân biệt giá của sản phẩm nhập khẩu. Muốn xác định ưu thế cạnh tranh về giá của hàng hóa nhập khẩu, ngoài việc xác định giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường, cần tiến hành thêm bước so sánh giữa giá xuất khẩu của hàng hóa nhập khẩu và giá bán của hàng hóa cạnh tranh nội địa. Kết quả so sánh có thể là: Thứ nhất: Giá xuất khẩu của hàng hóa nhập khẩu thấp hơn giá thông 9 Nguyễn Ngọc Sơn (2011), Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu và cơ chế thực thi tại Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật TP.
Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, tr. 14 thường trên thị trường xuất khẩu nhưng vẫn cao hơn giá của sản phẩm cạnh tranh nội địa. Trong tình huống này, hiện tượng bán phá giá vẫn tồn tại song hàng hóa nội địa đang có lợi thế cạnh tranh về giá so với hàng hóa nhập khẩu. Do đó, việc hàng hóa nhập khẩu bán phá giá không thể gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước.
Thứ hai: Giá xuất khẩu của hàng hóa nhập khẩu thấp hơn giá thông thường trên thị trường xuất khẩu và thấp hơn giá bán của sản phẩm cạnh tranh nội địa. Trong trường hợp này, hàng hóa xuất khẩu đang có lợi thế cạnh tranh về giá so với hàng hóa nội địa. Khi đó, các doanh nghiệp nội địa sản xuất sản phẩm cạnh tranh bị đẩy vào tình trạng không bán được hoặc phải hạ giá bán để giữ khách hàng hoặc mất thị phần với giá bán hiện tại10. Có thể thấy rằng, hiện tượng bán phá giá hàng hóa nhập khẩu không đương nhiên đưa đến kết quả là hàng hóa nhập khẩu có lợi thế cạnh tranh so với sản phẩm cạnh tranh nội địa.
Ngược lại, khi hàng hóa nhập khẩu có ưu thế cạnh tranh về giá so với sản phẩm nội địa thì cũng không nên vội vàng kết luận có hiện tượng bán phá giá. Vấn đề được đặt ra là cần có cơ chế để phân biệt hiện tượng bán phá giá hàng hóa nhập khẩu với việc hàng hóa nhập khẩu được bán với giá rẻ do có lợi thế cạnh tranh lành mạnh; cần phân biệt bán phá giá có khả năng hay không có khả năng gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa. Theo quy định của WTO, để xác định có hay không hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu, cần phải tiến hành các bước cơ bản sau đây: Bước 1: Xác định giá xuất khẩu và giá thông thường rồi so sánh chúng với nhau. Giá thông thường là giá bán của sản phẩm tương tự tại thị trường nước xuất khẩu hoặc giá bán của sản phẩm tương tự từ nước xuất khẩu sang một nước thứ ba; hoặc giá xây dựng từ tổng chi phí sản xuất ra sản phẩm, chi phí quản lý, bán hàng và khoản lợi nhuận hợp lý.
Giá xuất khẩu là giá trên hợp đồng giữa 10 Nguyễn Ngọc Sơn (2011), Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu và cơ chế thực thi tại Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, tr. 15 nhà xuất khẩu nước ngoài với nhà nhập khẩu hoặc giá bán cho người mua độc lập đầu tiên.
Để so sánh một cách công bằng giá thông thường và giá xuất khẩu, Hiệp định ADA quy định nguyên tắc so sánh như sau: - So sánh hai giá này trong cùng điều kiện thương mại (cùng xuất xưởng/ bán buôn/ bán lẻ), thường lấy giá ở khâu xuất xưởng; - Tại cùng một thời điểm hoặc thời điểm càng gần nhau càng tốt. Việc so sánh giá thông thường và giá xuất khẩu là cả một quá trình tính toán rất phức tạp. Vì không phải bao giờ cũng có sẵn mức giá xuất xưởng của giá thông thường và giá xuất khẩu mà chỉ có mức giá bán buôn hoặc bán lẻ của sản phẩm tương tự ở thị trường nước xuất khẩu và giá tính thuế hải quan, giá hợp đồng hoặc giá bán buôn/bán lẻ sản phẩm tương tự của nhà nhập khẩu. Do đó, cần phải có một số điều chỉnh một số yếu tố thì có thể so sánh giá thông thường và giá xuất khẩu một cách khách quan và công bằng.
Bước 2: Xác định biên độ bán phá giá, xác định thiệt hại và nguy cơ gây thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước.