CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm quảng cáo thương mại Quảng cáo thương mại là một công cụ cần thiết trong hoạt động kinh doanh. Quảng cáo thương mại giúp xúc tiến hoạt động bán hàng cũng như mang lại lợi nhuận cho cá nhân, tổ chức trong hoạt động kinh doanh.
Đồng thời, quảng cáo thương mại cũng thúc đẩy khách hàng biết thêm nhiều thông tin về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà các nhà kinh doanh cung cấp. Thông qua quảng cáo thương mại , khách hàng có thể tìm được những sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nhu cầu của mình. Với chức năng đó, quảng cáo thương mại đã xuất hiện từ rất sớm cùng với sự ra đời và phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh. Qua thời gian, nó cũng được con người biết đến bằng nhiều định nghĩa khác nhau.
Chính vì lẽ đó, khái niệm về quảng cáo thương mại đã được các nhà nghiên cứu tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau như: Trong từ điển Hán Việt, quảng cáo có nghĩa là tuyên truyền, giới thiệu bằng nhiều hình thức về hàng hóa, dịch vụ hay về hãng kinh doanh những hàng hóa đó nhằm hấp dẫn và thuyết phục người mua để đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hóa.8 Theo như giáo trình Marketing căn bản do GS.TS Trần Minh Đạo chủ biên có định nghĩa về quảng cáo như sau: “Quảng cáo là những hình thức truyền thông tin không trực tiếp, phi cá nhân, được thực hiện thông qua các phương tiện truyền tin phải trả tiền và các chủ thể quảng cáo phải chịu chi phí”.9 8 Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa – Thông tin, trang 432. 9 Trần Minh Đạo (2013), Giáo trình Marketing căn bản, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, trang 127. 13 Theo Philip Kotler, chuyên gia trong ngành Marketing nói chung và ngành quảng cáo nói riêng lại đưa ra một khái niệm khác về quảng cáo. Ông định nghĩa: “Quảng cáo là một hình thức trình bày gián tiếp và khuếch trương ý tưởng, sản phẩm hay dịch vụ được người tài trợ trả tiền”.10 Theo hiệp hội Marketing Mỹ (AMA): “Quảng cáo là bất cứ loại hình nào của sự hiện diện không trực tiếp của hàng hóa, dịch vụ hay tư tưởng hành động mà người ta phải trả tiền để nhận biết người quảng cáo”.
11 Như vậy, có thể hiểu quảng cáo là hình thức tuyên truyền để thực hiện việc giới thiệu thông tin về công ty, sản phẩm, dịch vụ hay ý tưởng nào đó. Quảng cáo là hoạt động truyền thông phi trực tiếp giữa người với người. Trong đó, người muốn truyền tải thông tin phải thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng để đưa thông tin đến người tiếp nhận thông tin. Quảng cáo là việc các nhà kinh doanh tác động tới hành vi, thói quen mua hàng của khách hàng nói chung và người tiêu dùng nói riêng.
Những định nghĩa trên tuy có khác nhau nhưng nhìn chung đều khẳng định hoạt động quảng cáo có hai yếu tố cơ bản là thông tin quảng cáo và mục đích quảng cáo. Mục đích chính của việc quảng cáo là để thông báo tới mọi người về một sản phẩm hoặc dịch vụ được cung cấp bởi nhà kinh doanh, thuyết phục họ mua sản phẩm hoặc sử dụng các dịch vụ đó. Sau đó, quảng cáo còn có tác dụng thuyết phục khách hàng mua thêm sản phẩm và tiếp tục duy trì thói quen sử dụng dịch vụ đó. Đối với một số thương nhân thì họ cần đến một lượng lớn các quảng cáo để có thể vượt qua chướng ngại đến từ đối thủ cạnh tranh khác trong ngành.
Khi đó, quảng cáo sẽ tập trung thể hiện tính ưu việt của sản phẩm, dịch vụ nhằm thu hút khách hàng đang sử dụng sản phẩm được cung cấp bởi hãng khác chuyển sang sử dụng sản phẩm của mình. Ngoài ra, việc quảng cáo cũng giúp các nhà kinh doanh 10 Philip Kotler (2010), Marketing căn bản, NXB Lao động – Xã hội, trang 376. 11 Nguyễn Tường Huy, Quản trị Marketing – Chiến lược chiêu thị, xem tại: https://www.net/tuonghuy03/qun-tr-marketing-chin-lc-chiu-th (truy cập ngày 1/6/2019) 14 thiết lập cho mình một hình ảnh thương hiệu đáng nhớ – điều này sẽ đem đến sự tin tưởng nhất định cho những khách hàng tiềm năng đối với chất lượng sản phẩm, hàng hóa hoặc dịch vụ được cung cấp. Từ đó, quảng cáo được pháp luật định nghĩa như sau: “Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi hay sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi.
Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ, hàng hóa, sản phẩm được giới thiệu, trừ tin thời sự, chính sách xã hội, thông tin cá nhân” (Khoản 1 Điều 2 Luật Quảng cáo năm 2012). Định nghĩa trên cho thấy đối tượng của hoạt động quảng cáo là hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có khả năng sinh lời hoặc không có khả năng mang lại lợi nhuận cho cá nhân, tổ chức. Quảng cáo không sinh lời là những quảng cáo được thực hiện cho mục tiêu chính trị, văn hóa, xã hội. Còn quảng cáo có mục đích sinh lời của thương nhân trong hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thì được gọi là quảng cáo thương mại.
Theo Điều 102 Luật Thương mại năm 2005: Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình. Cách định nghĩa này đã liệt kê quảng cáo thương mại vào một trong các hoạt động xúc tiến thương mại. Theo đó, xúc tiến thương mại là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại (Khoản 10 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005). Như vậy, quảng cáo thương mại được hiểu là một hoạt động thương mại nhằm thúc đẩy việc mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ của các nhà kinh doanh bằng cách giới thiệu đến khách hàng nói chung và người tiêu dùng nói riêng về sản phẩm của mình.
Song song đó, thông qua quảng cáo thương mại, người tiêu dùng cũng có cơ hội tìm kiếm những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của bản thân. 15 Tóm lại, quảng cáo thương mại là một hoạt động giới thiệu hàng hóa, cung ứng dịch vụ được thương nhân kinh doanh vì mục đích lợi nhuận. Như vậy, trong pháp luật hiện hành quảng cáo thương mại chỉ là một bộ phận của hoạt động quảng cáo nói chung. Vì lẽ đó mà quảng cáo thương mại bên cạnh việc mang những đặc điểm chung của hoạt động quảng cáo, còn mang những đặc điểm riêng biệt.
Đặc điểm của quảng cáo thương mại Quảng cáo thương mại thực chất là một hoạt động quảng cáo. Vì vậy, quảng cáo thương mại mang những đặc điểm chung của quảng cáo như quảng cáo mang tính đơn phương, chỉ có thông tin từ phía người quảng cáo; quảng cáo không chỉ dành riêng cho cá nhân đơn lẻ mà quảng cáo hướng tới toàn thể mọi người, phục vụ cho mục tiêu đã định của người quảng cáo; quảng cáo phải thông qua phương tiện trung gian để truyền tải thông tin đến người tiếp nhận quảng cáo. Tuy vậy, khác với quảng cáo nói chung và các hoạt động xúc tiến thương mại khác thì quảng cáo thương mại có các đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, về chủ thể: chủ thể của hoạt động quảng cáo thương mại là thương nhân. Với bản chất là một hoạt động thương mại do thương nhân thực hiện, quảng cáo thương mại khác biệt với quảng cáo nói chung, mặc dù chúng đều có chung đặc điểm đều là một quá trình thông tin.
Với tư cách là người kinh doanh, thương nhân thực hiện quảng cáo thương mại để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của mình hoặc thực hiện dịch vụ quảng cáo cho thương nhân khác theo hợp đồng để tìm kiếm lợi nhuận. Đây là đặc điểm khác biệt của quảng cáo thương mại với các quảng cáo phi lợi nhuận khác như: cổ động, tuyên truyền về đường lối, chủ trương, chính sách kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước,. Thứ hai, về tổ chức thực hiện: do quảng cáo thương mại có tác động rất lớn đến hoạt động buôn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ nên thương nhân sử dụng quảng cáo thương mại để quảng bá hàng hóa, dịch vụ của mình. Thương nhân có thể tự mình thực hiện các công việc cần thiết để quảng cáo thương mại.
Trong 16 trường hợp tự mình không có đủ điều kiện để quảng cáo hoặc quảng cáo không đạt hiệu quả mong muốn, thương nhân có quyền thuê thương nhân khác thực hiện việc quảng cáo cho mình thông qua hợp đồng và phải trả chi phí cho việc đó. Thứ ba, về mục đích của quảng cáo thương mại: mục đích của quảng cáo thương mại là giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ nhằm xúc tiến thương mại, đáp ứng mục tiêu lợi nhuận và nhu cầu cạnh tranh của thương nhân. Thông qua các hình thức truyền đạt thông tin, thương nhân giới thiệu về các loại hàng hóa, dịch vụ mới, tính ưu việt về chất lượng, giá cả, khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng của người tiêu dùng… Như vậy, thương nhân thông qua quảng cáo thương mại có thể tạo cho người tiêu dùng có thêm kiến thức về hàng hóa, dịch vụ. Người tiêu dùng dễ dàng so sánh các sản phẩm cùng loại của từng nhà kinh doanh khác nhau thông qua thông tin mà quảng cáo thương mại mang lại.
Quảng cáo thương mại làm người tiêu dùng bị thu hút bởi hàng hóa, dịch vụ từ việc nhấn mạnh đặc điểm, lợi ích cho đến tính ưu việt của sản phẩm. Có thể nói đây là những lợi thế mà thương nhân có thể khai thác vì nó có vai trò rất lớn trong việc định hướng nhu cầu tiêu dùng của toàn xã hội. Vai trò của quảng cáo thương mại Thứ nhất, vai trò của quảng cáo thương mại đối với thương nhân: Nhờ có quảng cáo thương mại, các thương nhân có thể đưa sản phẩm của mình đến với người tiêu dùng nhằm tăng sức mua tiêu dùng của người tiêu dùng; đồng thời mở rộng thị phần của mình trên thị trường. Bên cạnh đó, bằng việc nâng cao tần suất và mật độ quảng cáo cho sản phẩm của mình, thương nhân còn nâng cao giá trị thương hiệu của doanh nghiệp bằng cách tạo ra sự hiện diện thương hiệu thường xuyên nhằm khắc sâu dấu ấn thương hiệu trong tâm trí khách hàng nói chung và người tiêu dùng nói riêng.