Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Ngô Quang Huy với đề tài "Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi từ thực tiễn Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam" thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số: 9 38 01 07), được hoàn thành tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam năm 2020 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Minh Đức và TS. Nguyễn Văn Tuyến.
Về tính cấp thiết, hoạt động kinh doanh tiền tệ trong nền kinh tế thị trường tiềm ẩn nhiều rủi ro mang tính hệ thống như rủi ro lãi suất, tỷ giá, tín dụng, thanh khoản và rủi ro đạo đức. Chế định bảo hiểm tiền gửi (BHTG) đóng vai trò là công cụ tài chính công khai nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) và bảo đảm sự an toàn của hoạt động ngân hàng. Tại Việt Nam, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTGVN) được thành lập và vận hành dựa trên cơ sở Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, sau một thời gian áp dụng, các quy định pháp luật hiện hành đã bộc lộ những hạn chế, bất cập và chồng chéo. Đặc biệt, từ khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017 có hiệu lực, BHTGVN được giao thêm các chức năng quan trọng trong quá trình tái cơ cấu các TCTD yếu kém gắn liền với xử lý nợ xấu (theo Đề án phê duyệt tại Quyết định số 1058/QĐ-TTg), bao gồm: thực hiện cho vay đặc biệt để hỗ trợ thanh khoản; mua trái phiếu dài hạn của TCTD hỗ trợ; phối hợp với Ban kiểm soát đặc biệt đánh giá tính khả thi của phương án phục hồi quỹ tín dụng nhân dân (QTDND), tổ chức tài chính vi mô, công ty tài chính và tham gia xây dựng phương án phá sản TCTD được kiểm soát đặc biệt. Bối cảnh pháp lý mới đòi hỏi phải rà soát, đánh giá toàn diện việc thi hành Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 để kiến nghị sửa đổi, bổ sung đồng bộ.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ các vấn đề lý luận của pháp luật về BHTG, phân tích thực trạng thực hiện các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của BHTGVN, từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về BHTG và nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức BHTGVN.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định qua ba nội dung chính:
- Một là, về phương diện lý luận: Khái quát hóa, hệ thống hóa các vấn đề lý luận về BHTG, cơ chế xác lập quan hệ BHTG, cơ chế điều chỉnh pháp luật và các nhân tố tác động; phân tích, so sánh quy định pháp luật BHTG Việt Nam với chuẩn mực quốc tế và kinh nghiệm nước ngoài để chỉ ra hạn chế.
- Hai là, về phương diện thực tiễn: Đánh giá thực trạng thi hành pháp luật BHTG thông qua hoạt động nghiệp vụ của BHTGVN từ năm 2013 đến nay (chủ thể tham gia, loại tiền gửi được bảo hiểm, tính và thu phí BHTG, quản lý quỹ, kiểm tra, giám sát, chi trả, cho vay đặc biệt), xác định những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân.
- Ba là, về phương diện giải pháp: Xác định yêu cầu, định hướng và đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật BHTG cũng như giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành của BHTGVN.
Về câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu:
- Câu hỏi nghiên cứu tổng quát: Pháp luật về BHTG ở Việt Nam hiện nay đang ở trạng thái như thế nào, thực tiễn thi hành tại BHTGVN có thuận lợi hay khó khăn gì, và cần hoàn thiện ra sao để nâng cao hiệu quả điều chỉnh quan hệ BHTG nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi người gửi tiền?
- Giả thuyết nghiên cứu tổng quát: Quy định của pháp luật về BHTG đã bộc lộ những hạn chế nhất định cần được hoàn thiện theo hướng bảo đảm tính hợp lý của mô hình BHTG, mức phí BHTG và hạn mức chi trả, bảo đảm tính hiệu quả trong thực thi chính sách vì mục tiêu an toàn hệ thống và bảo vệ người gửi tiền.
- Các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu cụ thể:
- Về lý luận: Câu hỏi tập trung vào bản chất, mô hình BHTG trên thế giới và tại Việt Nam, địa vị pháp lý của tổ chức BHTG và cơ chế điều chỉnh pháp luật. Giả thuyết khẳng định BHTG là cam kết công khai, cơ chế điều chỉnh của pháp luật mang tính đặc thù (không hoàn toàn dựa trên hợp đồng thuần túy mà có sự can thiệp của Nhà nước nhằm thực hiện chính sách công).
- Về luật thực định và thực tiễn: Câu hỏi khảo sát thực trạng quy định và việc áp dụng các nghiệp vụ BHTG tại BHTGVN. Giả thuyết chỉ ra quy định hiện nay chưa tương thích với thông lệ quốc tế, còn thiếu đồng bộ giữa Luật Bảo hiểm tiền gửi với Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Các tổ chức tín dụng, Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Phá sản.
- Về giải pháp: Câu hỏi xác định cơ sở khoa học, phương hướng và nội dung sửa đổi pháp luật. Giả thuyết nhấn mạnh tính cấp thiết của việc sửa đổi Luật Bảo hiểm tiền gửi để tạo hành lang pháp lý cho BHTGVN tham gia sâu vào quá trình cơ cấu lại TCTD yếu kém, nâng hạn mức chi trả và chuyển đổi cơ chế tính phí BHTG.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận về BHTG, mô hình hoạt động của các tổ chức BHTG trên thế giới, các quy định của pháp luật Việt Nam và quốc tế về BHTG, thực trạng thực hiện pháp luật BHTG của BHTGVN, cùng hệ thống giải pháp hoàn thiện.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Tập trung vào địa vị pháp lý của BHTGVN, mô hình BHTG, quan hệ chủ thể, tiền gửi được bảo hiểm, cơ chế phí, quản lý quỹ, kiểm tra giám sát, chi trả bảo hiểm và tham gia xử lý TCTD yếu kém.
- Về không gian và thời gian: Nghiên cứu pháp luật và thực tiễn hoạt động của BHTGVN trên lãnh thổ Việt Nam có đối chiếu quốc tế, phạm vi dữ liệu và số liệu tập trung từ năm 2013 đến thời điểm hoàn thành luận án (2020).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan trực tiếp đến BHTG theo các nhóm chủ đề:
Về các công trình nghiên cứu quốc tế:
- Nhóm nghiên cứu về lý luận, vai trò và mô hình BHTG: Asli Demirguc-Kunt, Baybars Karacaovali và Luc A. Laeven (2005) với công trình "Deposit Insurance around the world - A data base"; Jang-Bong Choi (2000) với "Structuring a deposit insurance system from the Asian perspective"; Garcia G. Hupkes (2005) với "The Role of Deposit Protection and Resolution Policy in Promoting Financial Stability"; Mankiw G.N. (1992) với giáo trình "Macroeconomics"; Garcia G.H. (1999) với "Deposit insurance: A survey of actual and best practices"; Junior J. (1988) với "The structure of the US banking system and banking supervision". Các nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của BHTG như một cấu phần của mạng an toàn tài chính quốc gia và khảo sát các mô hình BHTG khác nhau.
- Nhóm tài liệu hướng dẫn và chuẩn mực quốc tế: Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả (ban hành tháng 6/2009, sửa đổi năm 2014) và Tài liệu hướng dẫn phương pháp đánh giá mức độ tuân thủ (tháng 12/2010) do Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi Quốc tế (IADI) phối hợp với Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) ban hành; các hướng dẫn can thiệp của Tổ chức BHTG Canada (CDIC, 2014) và cơ quan giám sát OSFI; các báo cáo của Diễn đàn Ổn định Tài chính (FSF, 2009).
Về các công trình nghiên cứu trong nước:
- Nhóm công trình nghiên cứu trước và sau khi ban hành Luật Bảo hiểm tiền gửi: Viện Nghiên cứu Lập pháp thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2009) với "Kinh nghiệm quốc tế về tổ chức bảo hiểm tiền gửi hiệu quả"; Nguyễn Thị Kim Oanh (2002, 2003, 2004) nghiên cứu về đối tượng tham gia, hạn mức chi trả, cách tính phí và rủi ro đạo đức trong BHTG; Bùi Khắc Sơn (2014) với "Giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam"; Nguyễn Văn Thạnh (2014) về ổn định tài chính nhìn từ NHTW và BHTG; Viện Nghiên cứu Khoa học Ngân hàng (2003) với đề tài cấp ngành "Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam"; Nguyễn Minh Phong (2017), Hà Huy Tuấn (2014, 2017) nghiên cứu về nâng hạn mức chi trả và vị thế BHTGVN; Nguyễn Thị Mùi (2016) về vai trò của BHTG trong mạng an toàn tài chính quốc gia; Nguyễn Chí Đức và Nguyễn Tuấn Vũ (2014) về quan hệ giữa BHTG và kỷ luật thị trường qua lãi suất huy động của 20 NHTM giai đoạn 2003-2013; Vũ Văn Long (2017) về cơ chế đầu tư vốn nhàn rỗi; Võ Trí Thành (2014) về phí BHTG; Nguyễn Đức Kiên (2017) và Nguyễn Toàn Thắng (2016) về vai trò của BHTGVN trong tái cơ cấu TCTD.
- Nhóm công trình nghiên cứu về phương diện pháp lý: Đinh Dũng Sỹ (2002, 2004, 2008) phân tích an toàn tín dụng, khái niệm tiền gửi cá nhân và mô hình BHTG; Lê Thị Thu Thủy (2007, 2008) với chuyên khảo "Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam"; Đào Trí Úc về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền; Trần Du Lịch (2013) về triển khai Luật Bảo hiểm tiền gửi; cùng các luận án tiến sĩ của Đào Văn Tuấn (2005), Bùi Hữu Toàn (2012), Lê Việt Nga (2012), Nguyễn Đăng Quân (2018) và các luận văn thạc sĩ của Bùi Thu Hương (2010), Nguyễn Thị Hiển (2008), Nguyễn Duy Hoàn (2011), Nguyễn Cửu Lan Phương (2012), Trần Thị Nguyệt (2014).
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết:
Mặc dù các công trình trước đã nghiên cứu nhiều khía cạnh về BHTG, phần lớn các nghiên cứu được thực hiện trước năm 2017 hoặc tập trung vào góc độ kinh tế - ngân hàng thuần túy. Luận án của tác giả Ngô Quang Huy tập trung giải quyết các khoảng trống pháp lý phát sinh từ thực tiễn thi hành Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 và yêu cầu đồng bộ hóa với Luật sửa đổi, bổ sung Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017, cụ thể:
- Làm rõ địa vị pháp lý của BHTGVN trong mạng an toàn tài chính quốc gia và cơ sở chuyển đổi sang mô hình BHTG giảm thiểu rủi ro.
- Phân tích thực trạng bất cập của cơ chế thu phí đồng hạng 0,15% hiện nay và cơ sở pháp lý để áp dụng hệ thống thu phí phân biệt theo mức độ rủi ro.
- Luận giải cơ sở điều chỉnh hạn mức chi trả BHTG và thời điểm phát sinh nghĩa vụ chi trả nhằm bảo đảm quyền lợi người gửi tiền.
- Xây dựng khung pháp lý toàn diện cho việc BHTGVN thực hiện các nhiệm vụ mới: cho vay đặc biệt, mua trái phiếu dài hạn và tham gia xử lý, phục hồi TCTD kiểm soát đặc biệt.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết được tác giả sử dụng trong luận án bao gồm:
- Lý thuyết cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Kế thừa lý thuyết cạnh tranh của trường phái cổ điển (Adam Smith, John Stuart Mill) và lý thuyết cạnh tranh tự do để luận giải tính chất cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn của các TCTD; lý thuyết bảo hiểm và phân loại BHTG như một loại dịch vụ công ích ("hàng hóa công không thuần túy").
- Lý thuyết thông tin bất cân xứng và quản trị rủi ro: Sử dụng để giải thích sự yếu thế của người gửi tiền cá nhân trước các tổ chức ngân hàng, phân tích hiện tượng rủi ro đạo đức (moral hazard) khi có sự bảo đảm tiền gửi và cơ chế phòng ngừa rủi ro hệ thống.
- Lý thuyết thể chế kinh tế thị trường và lý thuyết pháp lý: Vận dụng quan điểm về quản lý, điều tiết nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Nhà nước pháp quyền để xác định cơ chế can thiệp của pháp luật vào quan hệ BHTG nhằm bảo đảm an sinh xã hội và ổn định kinh tế vĩ mô.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp phương pháp tiếp cận đa ngành và liên ngành giữa kinh tế học tiền tệ - ngân hàng và luật học, trong đó trọng tâm đặt vào việc phân tích quy phạm pháp luật thực định.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa: Sử dụng xuyên suốt các chương để phân tích quy định pháp luật và các tài liệu khoa học trong, ngoài nước.
- Phương pháp luật học so sánh: Đối chiếu quy định của pháp luật BHTG Việt Nam qua các thời kỳ (trước và sau Luật BHTG năm 2012) và so sánh với pháp luật của các quốc gia như Mỹ (FDIC), Hàn Quốc (KDIC), Nga (DIA), Canada (CDIC), Malaysia (PIDM), Indonesia (LPS), Đức, Hà Lan, Argentina, Brazil...
- Phương pháp thống kê, mô tả thực chứng: Sử dụng để tổng hợp số liệu thực tế về hoạt động thu phí, kiểm tra, giám sát và tham gia tái cơ cấu của BHTGVN giai đoạn 2013-2018/2019.
- Nguồn tư liệu, dữ liệu: Văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam; các tài liệu hướng dẫn của Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi Quốc tế (IADI), Ủy ban Basel; báo cáo tổng kết thực tiễn hoạt động và số liệu thống kê nghiệp vụ của BHTGVN, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử hình thành hoạt động BHTG trên thế giới từ chương trình bảo hiểm trách nhiệm ngân hàng đầu tiên tại New York (Mỹ) năm 1829, đến sự thành lập IADI năm 2002. Tại Việt Nam, hoạt động bảo vệ tiền gửi bắt đầu từ nghiệp vụ của Bảo Việt năm 1993 theo Quyết định số 390/QĐ-TTg, song bộc lộ nhiều bất cập do tính chất tự nguyện và thiếu chuyên trách. Từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997 và sự đổ vỡ của các hợp tác xã tín dụng giai đoạn 1988-1990, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 89/1999/NĐ-CP và Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg thành lập BHTGVN, chính thức vận hành từ ngày 07/07/2000.
Chương này xác lập khung lý thuyết nghiên cứu dựa trên lý thuyết cạnh tranh, thông tin bất cân xứng, quản trị rủi ro và thể chế kinh tế thị trường, đồng thời đặt ra 3 nhóm câu hỏi và 3 nhóm giả thuyết nghiên cứu làm cơ sở triển khai các chương tiếp theo.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về bảo hiểm tiền gửi và pháp luật về bảo hiểm tiền gửi
Tác giả phân tích bản chất kinh tế và pháp lý của BHTG. Về phương diện kinh tế, BHTG là quan hệ tài chính bù đắp rủi ro theo nguyên lý "lấy số đông bù số ít". Về phương diện pháp lý, đây là quan hệ pháp luật đặc thù giữa tổ chức BHTG và tổ chức tham gia BHTG (các TCTD) nhằm bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền thứ ba; quan hệ này tại Việt Nam được xác lập theo cơ chế bắt buộc luật định (phi hợp đồng).
Luận án phân tích 3 mô hình BHTG phổ biến trên thế giới dựa trên tiêu chí nhiệm vụ và quyền hạn do IADI phân loại:
- Mô hình chuyên chi trả (Pay-box): Tổ chức BHTG chỉ có chức năng thu phí, quản lý quỹ và chi trả tiền bảo hiểm khi TCTD đổ vỡ (như tại Úc, Đức, Hà Lan, Hồng Kông, Thụy Sĩ).
- Mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng (Pay-box with extended powers): Được bổ sung quyền hỗ trợ tài chính, xử lý và thu hồi nợ của TCTD phá sản (như tại Anh, Brazil, Argentina, Việt Nam theo Luật năm 2012).
- Mô hình giảm thiểu rủi ro (Risk-minimizer): Có thẩm quyền toàn diện trong giám sát, đánh giá rủi ro, cảnh báo sớm, thu phí theo rủi ro, tham gia tái cơ cấu, xử lý đổ vỡ và cho vay hỗ trợ thanh khoản (như FDIC của Mỹ, KDIC của Hàn Quốc, DIA của Nga, Ba Lan, Pháp, Nhật Bản).
Bảng tổng hợp các mô hình BHTG và mục tiêu chính sách công được tác giả trích dẫn từ IADI:
| STT |
Mục tiêu chính sách công |
Mô hình chi trả |
Chi trả với quyền hạn mở rộng |
Mô hình giảm thiểu rủi ro |
| 1 |
Bảo vệ người gửi tiền nhỏ qua cơ chế bồi thường |
v |
v |
v |
| 2 |
Khuyến khích người gửi tiền ít hiểu biết tài chính giám sát ngân hàng và thực hiện nguyên tắc thị trường |
v |
v |
v |
| 3 |
Giảm gánh nặng cho Chính phủ, yêu cầu ngân hàng tốt đóng góp chi phí xử lý ngân hàng |
v |
v |
v |
| 4 |
Thúc đẩy cạnh tranh trong khu vực tài chính |
v |
v |
v |
| 5 |
Tạo cơ chế chính thức trong xử lý đổ vỡ ngân hàng |
|
v |
v |
| 6 |
Tránh khủng hoảng tài chính |
|
v |
v |
| 7 |
Thúc đẩy ổn định tài chính |
|
|
v |
| 8 |
Khuyến khích tiết kiệm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế |
|
|
v |
| 9 |
Góp phần vào hệ thống thanh toán có trật tự |
|
|
v |
| 10 |
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế |
|
|
v |
| 11 |
Giảm thiểu tác động của suy thoái kinh tế |
|
|
v |
Luận án cũng tổng hợp đặc điểm hệ thống BHTG của một số quốc gia:
| Quốc gia |
Quản trị |
Tổ chức BHTG |
Nhiều hệ thống trong một quốc gia |
Thành viên bắt buộc/tự nguyện |
Thời điểm tham gia BHTG |
Mô hình |
| Argentina |
Tự quản |
Tư nhân (người nhận quỹ uỷ thác) |
Không |
Bắt buộc |
Khi được cấp phép |
Chi trả với quyền hạn mở rộng |
| Australia |
Giám sát |
Nhà nước |
Không |
Bắt buộc |
Khi được cấp phép |
Chi trả |
| Brazil |
Tự quản |
Hiệp hội phi lợi nhuận |
Có |
Bắt buộc |
Khi được cấp phép |
Chi trả với quyền hạn mở rộng |
| Đức |
Tự quản |
Hỗn hợp |
Có |
Bắt buộc |
Khi được cấp phép |
Chi trả |
| Nga |
Nhà nước |
Công ty Nhà nước |
Không |
Bắt buộc |
Khi được cấp phép |
Giảm thiểu chi phí / rủi ro |
| Hà Lan |
Ngân hàng TW quản lý |
Nhà nước |
Không |
Bắt buộc |
Khi được cấp phép |
Chi trả |
Chương 2 cũng phân tích quá trình tiến hóa của pháp luật BHTG Việt Nam qua 2 giai đoạn:
- Giai đoạn trước Luật Bảo hiểm tiền gửi: Từ Quyết định số 390/QĐ-TTg (1993), Điều 17 Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997, Nghị định số 89/1999/NĐ-CP, Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg thành lập BHTGVN, Nghị định số 109/2005/NĐ-CP và Thông tư số 03/2006/TT-NHNN.
- Giai đoạn từ khi có Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012: Được cụ thể hóa qua Nghị định số 68/2013/NĐ-CP, Quyết định số 1394/QĐ-TTg, Quyết định số 1395/QĐ-TTg (sửa đổi bởi Quyết định số 527/QĐ-TTg xác định mô hình Công ty TNHH MTV do Nhà nước nắm 100% vốn điều lệ), các Thông tư hướng dẫn về tài chính, kế toán (Thông tư 177/2015/TT-BTC, Thông tư 312/2016/TT-BTC) và các văn bản liên quan đến cơ cấu lại TCTD (Quyết định số 1058/QĐ-TTg, Luật số 17/2017/QH14 sửa đổi Luật Các TCTD, Thông tư số 01/2018/TT-NHNN).
Chương 3: Thực trạng thực hiện pháp luật bảo hiểm tiền gửi của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Chương 3 tập trung phân tích việc thực thi pháp luật BHTG trong các nghiệp vụ cụ thể tại BHTGVN giai đoạn 2013-2019:
- Về chủ thể tham gia BHTG: Khảo sát đối tượng tham gia bắt buộc (các NHTM, QTDND, tổ chức tài chính vi mô, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi cá nhân).
- Về loại tiền gửi được bảo hiểm và hạn mức chi trả: Luật quy định tiền gửi được bảo hiểm là tiền gửi bằng đồng Việt Nam của cá nhân gửi tại tổ chức tham gia BHTG dưới hình thức tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức khác. Về hạn mức chi trả: từ năm 1999-2004 là 30 triệu đồng, năm 2005-2017 là 50 triệu đồng; từ ngày 05/08/2017 áp dụng mức tối đa 75 triệu đồng (bao gồm cả gốc và lãi) cho một cá nhân tại một tổ chức theo Quyết định số 21/2017/QĐ-TTg. Luận án chỉ rõ hạn mức này còn thấp so với quy mô tiền gửi bình quân và chưa thực sự linh hoạt.
- Về phí bảo hiểm tiền gửi và quản lý quỹ: Luật BHTG quy định thu phí trên cơ sở phân loại rủi ro, nhưng thực tế BHTGVN vẫn đang áp dụng mức phí đồng hạng là 0,15%/năm tính trên tổng số dư tiền gửi bình quân được bảo hiểm. Cơ chế cào bằng này chưa tạo động lực để các TCTD quản trị rủi ro tốt hơn nhằm giảm chi phí nộp phí.
- Về các nghiệp vụ kiểm tra, giám sát và tham gia tái cơ cấu: BHTGVN thực hiện giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ việc chấp hành quy định pháp luật về BHTG. Kể từ khi Luật số 17/2017/QH14 có hiệu lực, BHTGVN bước đầu tham gia phối hợp với Ban kiểm soát đặc biệt trong việc đánh giá phương án phục hồi và cho vay đặc biệt đối với QTDND gặp khó khăn.
Đánh giá thực trạng, luận án chỉ ra các hạn chế căn bản:
- Mô hình BHTGVN chưa tương xứng với nhiệm vụ xử lý đổ vỡ ngân hàng theo chuẩn mực quốc tế.
- Cơ chế phí đồng hạng 0,15% không bảo đảm nguyên tắc thị trường và công bằng.
- Hạn mức chi trả 75 triệu đồng còn thấp, chưa bắt kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế và thu nhập của người dân.
- Thời điểm phát sinh nghĩa vụ chi trả quy định tại Điều 24 Luật BHTG (khi NHNN chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản không áp dụng phục hồi mà TCTD vẫn phá sản) kéo dài thời gian chờ đợi của người gửi tiền do quá trình kiểm soát đặc biệt thực tế thường kéo dài.
- Thiếu quy chế phối hợp và chia sẻ thông tin kịp thời giữa BHTGVN và các cơ quan thanh tra, giám sát thuộc Ngân hàng Nhà nước.
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo hiểm tiền gửi và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo hiểm tiền gửi của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Dựa trên thực trạng và định hướng phát triển ngành Ngân hàng, chương 4 đề xuất các nhóm giải pháp:
Định hướng hoàn thiện:
- Phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và tái cơ cấu hệ thống TCTD.
- Từng bước tiếp cận Bộ nguyên tắc cơ bản của IADI/Basel và chuyển dịch dần sang mô hình BHTG giảm thiểu rủi ro (Risk-minimizer).
- Bảo đảm tính đồng bộ giữa Luật Bảo hiểm tiền gửi với Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Các tổ chức tín dụng và Luật Phá sản.
Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
- Sửa đổi Luật Bảo hiểm tiền gửi: Thể chế hóa đầy đủ các thẩm quyền mới của BHTGVN đã được quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung Luật Các TCTD năm 2017 (cho vay đặc biệt, mua trái phiếu dài hạn hỗ trợ, tham gia xây dựng phương án phục hồi/phá sản).
- Chuyển đổi cơ chế tính phí BHTG: Xây dựng lộ trình áp dụng biểu phí BHTG phân biệt trên cơ sở kết quả đánh giá, phân loại mức độ an toàn và rủi ro của từng tổ chức tham gia BHTG, thay thế cơ chế phí đồng hạng 0,15%.
- Điều chỉnh hạn mức chi trả bảo hiểm: Nghiên cứu nâng hạn mức chi trả lên mức phù hợp hơn với GDP bình quân đầu người và quy mô tiền gửi dân cư trong từng thời kỳ, tăng tính linh hoạt bằng cách giao Thẩm quyền cho Thủ tướng Chính phủ hoặc Thống đốc NHNN điều chỉnh kịp thời.
- Sửa đổi quy định về thời điểm phát sinh nghĩa vụ chi trả: Rút ngắn thời gian xác định sự kiện chi trả, tránh để người gửi tiền phải chờ đợi quá trình kiểm soát đặc biệt kéo dài, bảo vệ kịp thời quyền lợi hợp pháp của người dân.
Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi:
- Củng cố năng lực tài chính cho BHTGVN, đa dạng hóa danh mục đầu tư nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi theo hướng an toàn, hiệu quả.
- Hoàn thiện quy chế phối hợp và chia sẻ thông tin giám sát giữa Ngân hàng Nhà nước và BHTGVN (triển khai đồng bộ Thông tư số 34/2016/TT-NHNN).
- Đổi mới phương thức kiểm tra, giám sát từ xa, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm rủi ro đối với các TCTD, đặc biệt là hệ thống QTDND.
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đẩy mạnh công tác tuyên truyền chính sách BHTG để củng cố niềm tin công chúng.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về khoa học trên cả phương diện lý luận và thực tiễn:
- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về BHTG dưới góc độ luật học kinh tế; phân tích bản chất pháp lý đặc thù của quan hệ BHTG (quan hệ ba bên theo luật định); làm rõ 3 mô hình BHTG quốc tế và xác định mô hình phù hợp cho Việt Nam trong từng giai đoạn phát triển; phân tích vai trò của BHTG như một cấu phần trong mạng an toàn tài chính quốc gia.
- Về mặt thực tiễn: Đánh giá toàn diện thực trạng thi hành pháp luật BHTG tại BHTGVN từ năm 2013 đến nay; chỉ ra các điểm nghẽn pháp lý thực tế như áp dụng mức phí đồng hạng 0,15%, hạn mức chi trả 75 triệu đồng còn thấp, quy định thời điểm chi trả chưa hợp lý, và cơ chế tham gia tái cơ cấu TCTD yếu kém theo Luật số 17/2017/QH14 chưa được luật hóa đồng bộ trong Luật Bảo hiểm tiền gửi.
- Về giải pháp: Đề xuất hệ thống các giải pháp lập pháp và giải pháp tổ chức thi hành nhằm hoàn thiện pháp luật BHTG, trọng tâm là sửa đổi Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012, chuyển đổi sang cơ chế phí theo rủi ro, nâng cao năng lực tài chính và mở rộng quyền hạn của BHTGVN hướng tới mô hình giảm thiểu rủi ro.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án tập trung khảo sát phạm vi dữ liệu thực tiễn hoạt động của BHTGVN trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến giai đoạn 2018-2020, nghiên cứu chuyên sâu về các TCTD thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật Việt Nam. Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp định tính và phân tích pháp lý thực chứng, chưa xây dựng các mô hình định lượng toán kinh tế phức tạp để tính toán mức phí rủi ro vi mô chi tiết cho từng loại hình TCTD.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ phạm vi đề tài bao gồm:
- Xây dựng mô hình định lượng và bộ chỉ số rủi ro cụ thể để áp dụng phương pháp tính phí BHTG phân biệt cho từng nhóm ngân hàng thương mại và QTDND tại Việt Nam.
- Nghiên cứu cơ chế pháp lý chi tiết về quy trình phối hợp xử lý đổ vỡ xuyên biên giới đối với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tập đoàn tài chính đa quốc gia.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:
- Cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn trực tiếp phục vụ việc tổng kết thi hành, sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012, sửa đổi các văn bản dưới luật của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về BHTG và tái cơ cấu TCTD.
- Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam: Cung cấp luận cứ thực tiễn để hoàn thiện các quy trình nghiệp vụ kiểm tra, giám sát từ xa, tính phí, quản trị nguồn vốn và chuẩn bị năng lực tham gia xử lý QTDND yếu kém.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Làm tài liệu phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu chuyên sâu về Luật Ngân hàng, Luật Kinh tế, An toàn hệ thống tài chính và Pháp luật BHTG.
Câu hỏi thường gặp
1. Hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam qua các thời kỳ được quy định như thế nào?
Theo các văn bản pháp luật được luận án trích dẫn, hạn mức chi trả BHTG tại Việt Nam được điều chỉnh qua 3 giai đoạn: từ năm 1999 đến năm 2004 là 30 triệu đồng; từ năm 2005 đến trước tháng 8/2017 là 50 triệu đồng; và từ ngày 05/08/2017 theo Quyết định số 21/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hạn mức trả tiền bảo hiểm tối đa là 75 triệu đồng (bao gồm cả gốc và lãi) cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm của một cá nhân tại một tổ chức tham gia BHTG.
2. BHTGVN đang áp dụng phương thức tính và thu phí bảo hiểm tiền gửi nào và điểm hạn chế là gì?
BHTGVN hiện đang áp dụng phương thức thu phí đồng hạng với tỷ lệ 0,15%/năm tính trên tổng số dư bình quân tiền gửi được bảo hiểm cho tất cả các tổ chức tham gia BHTG. Điểm hạn chế của phương thức này là cào bằng giữa các TCTD, không phân biệt quy mô và mức độ rủi ro hoạt động, dẫn đến thiếu công bằng và không khuyến khích các TCTD nâng cao mức độ an toàn hoạt động.
3. Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các TCTD năm 2017, BHTGVN được giao thêm các nhiệm vụ mới nào?
Luật số 17/2017/QH14 giao thêm cho BHTGVN 4 nhiệm vụ: (i) cho vay đặc biệt đối với TCTD bị kiểm soát đặc biệt; (ii) mua trái phiếu dài hạn của TCTD hỗ trợ; (iii) phối hợp với Ban kiểm soát đặc biệt đánh giá tính khả thi của phương án phục hồi QTDND, tổ chức tài chính vi mô, công ty tài chính; (iv) phối hợp với Ban kiểm soát đặc biệt xây dựng phương án phá sản TCTD được kiểm soát đặc biệt trình NHNN.
4. Mô hình hoạt động hiện nay của BHTGVN thuộc dạng nào trong phân loại của Hiệp hội BHTG quốc tế (IADI)?
BHTGVN về cơ bản hoạt động theo Mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng (Pay-box with extended powers), tức là ngoài chức năng thu phí, quản lý quỹ và chi trả, tổ chức còn có quyền theo dõi, khuyến nghị, hỗ trợ tài chính và tham gia xử lý nợ. Luận án đề xuất định hướng dài hạn cho Việt Nam là chuyển dịch sang Mô hình giảm thiểu rủi ro (Risk-minimizer).
5. Thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm theo Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 có điểm bất cập gì?
Điều 24 Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 quy định nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm phát sinh kể từ thời điểm NHNN có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản không áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà TCTD vẫn lâm vào tình trạng phá sản hoặc mất khả năng chi trả. Bất cập là thời gian kiểm soát đặc biệt trong thực tế thường kéo dài, khiến người gửi tiền phải chờ đợi lâu để được nhận tiền bồi thường.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Quang Huy là công trình nghiên cứu chuyên sâu về mặt pháp lý và thực tiễn đối với hệ thống BHTG tại Việt Nam giai đoạn 2013-2020. Tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận, hệ thống hóa các mô hình BHTG quốc tế, phân tích thực trạng áp dụng pháp luật BHTG tại BHTGVN và chỉ ra các hạn chế căn bản về cơ chế phí đồng hạng, hạn mức chi trả và sự thiếu đồng bộ giữa các đạo luật. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp sửa đổi Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 và nâng cao năng lực thực thi của BHTGVN, hướng tới mô hình giảm thiểu rủi ro nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng.