Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan một số nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1. Các nghiên cứu về stress Từ xưa người Trung Quốc mặc dù chưa hiểu bản chất của stress và cơ chế của nó, nhưng bằng thực tiễn cuộc sống sinh hoạt đã thấy được tác hại của stress đối với sức khỏe con người và đã đề xuất cách chống stress có hại. Chúng ta cũng có thể coi đây là những nghiên cứu đầu tiền về stress.
Thời Xuân thu Chiến quốc (403 – 221 TCN) các danh y Trung Hoa trong sách “Hoàng đế Nội kinh tố vấn” đã tổng kết các dữ liệu khoa học từ đời vua huyền thoại Hoàng Đế (2697 – 2597 TCN), nêu rõ bệnh tật có ba nguyên nhân, đó là: Nguyên nhân bên ngoài (khí hậu, thời tiết, môi trường gọi là “lục khí ngũ vận”), nguyên nhân bên trong (rối loạn bảy loại cảm xúc, còn gọi là “thất tình”: hỷ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục (vui, giận, sầu bi, khoái lạc, yêu, ghét, đam mê) và do các bệnh tật khác dẫn đến các rối loạn chung gọi là “lục dâm”: phong – hàn, thử - tháp, táo hỏa), nguyên nhân không hoàn toàn bên trong cũng không hoàn toàn bên ngoài, mà do tai nạn gây ra như: rắn rết cắn, chấn thương, ăn nhầm phải chất độc… Như vậy, rối loạn cảm xúc đã được người xưa cho là một trong ba nguyên nhân cơ bản gây nên bệnh tật ở con người. Các nhà stress học hiện đại đã và đang kế thừa, phát huy những di sản khoa học truyền thống. Tác giả Claude Bernard đã cho rằng “Những thay đổi của môi trường bên ngoài sẽ không ảnh hưởng đến cơ thể, nếu cơ thể bù trừ và làm cân bằng” những thay đổi đó [40]. Theo ông, chính hệ thần kinh đảm bảo chức năng điều tiết làm cho cơ thể lấy lại cân bằng.
Phát hiện của Claude Bernard khai phá lịch sử nghiên cứu hiện đại về khả năng tự điều chỉnh để thích nghi của cơ thể con người. Nhà sinh lý học người Mỹ W. Cannon với tác 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phẩm nổi tiếng “Sự khôn ngoan của cơ thể” xuất bản tại New York năm 1932 đã đề xuất thuật ngữ “Homeostasie” nghĩa là “cân bằng nội môi” để mô tả những trạng thái phức hợp cân bằng sinh lý mà ông nhận thấy chủ yếu khi thay đổi nồng độ các chất có trong máu như: nước, natri, đường, đạm, mỡ… trên cơ sở sự điều tiết của hệ thần kinh thực vật và lõi thượng thận. Phản ứng này là cấp thời.
Pavlov (1932) cũng đã nêu ra đặc tính chung của khái niệm này: “… cơ thể là một hệ thống (đúng hơn là một cái máy) tự điều chỉnh, là một hệ thống tự điều chỉnh bản thân ở mức cao nhất, hệ thống ấy tự duy trì bản thân, tự hiệu chỉnh bản thân, tự cân bằng bản thân và thậm chí tự hoàn thiện bản thân”. Kế thừa kết quả nghiên cứu của Claude Bernard về sự ổn định tương đối thường xuyên của nội môi ở động vật, điều kiện quan trọng nhất để nó tồn tại và phát triển, và khả năng tự điều chỉnh của W. Cannon, Hans Selye đã nhận thấy bên cạnh những phản ứng đặc trưng do các yếu tố bất lợi khác nhau gây ra, cơ thể luôn luôn có những phản ứng chung nhất. Năm 1936 ông gọi phản ứng chung, không đặc hiệu của cơ thể bằng thuật ngữ “stress”.
Thuật ngữ này lúc đầu thiên về bệnh học, nên dùng là “hội chứng”, sau đó nó được hiểu là “Hội chứng thích nghi chung” (General adaptation syndrome) và thường được viết tắt là G.S, hiểu là phản ứng nhằm giúp cơ thể thích nghi với môi trường luôn thay đổi. Đây là quá trình diễn ra qua ba giai đoạn kế tiếp nhau: báo động, cầm cự và kiệt quệ. Biểu hiện của quá trình này là sự tăng cường rồi suy kiệt của hệ thống thần kinh – nội tiết: dưới đồi – tuyến yên – vỏ thượng thận. Phản ứng này kéo dài hơn do các tác động của hormone vỏ thượng thận (corticoid).
Các công trình nghiên cứu có hệ thống của H. Selye đã bổ sung thêm cho thuyết Homeostasie và làm cho học thuyết stress được truyền bá rộng rãi. Selye có hơn 1000 công bố khoa học, trong đó có hơn 20 tập sách chuyên khảo. Là nhà lãnh đạo trường đại học nhiều năm, ông đã kết hợp được sức mạnh của các nhà khoa học nhiều nước trong việc giải quyết các mặt khác nhau của stress và tạo điều kiện cho việc nghiên cứu 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com stress vượt ra khỏi khuôn khổ của những cuộc thí nghiệm về bệnh lý ban đầu.
Những phát hiện gần đây, các phản ứng thích nghi chung (G.S) với cơ chế thần kinh – thể dịch – nội tiết được phát huy sâu rộng hơn dẫn tới những rối loạn bệnh lý tổng quát dưới danh từ stress oxy hóa (rối loạn quá trình oxy hóa khử là cơ chế cơ bản của mọi hoạt động sống và hoạt động trên cơ sở chuyển hóa chất dinh dưỡng và gây ra một loại bệnh mới đã được đưa vào danh mục chính thức của các loại bệnh, đó là bệnh các gốc tự do). Parin đã nhận xét: “Khái niệm stress của H. Selye đã thay đổi phần lớn quy tắc chữa trị và phòng ngừa hàng loạt bệnh. Quan điểm của ông lúc đầu gặp không ít sự phản đối, bây giờ đã nhận được sự phổ biến không chỉ thông qua các phản ứng hormone mà còn thông qua nhiều phản ứng sinh lý khác của cơ thể, đặc biệt là của hệ thần kinh.
Nhiều tác giả có những dữ liệu chứng tỏ rằng, sự điều tiết giao cảm chiếm ưu thế đảm bảo nâng cao khả năng thích nghi, vì nó góp phần làm lan tỏa các quá trình thần kinh, nâng cao độ nhạy của giác quan và làm cho cơ thể phản ứng thích hợp với từng tình huống. Sự điều tiết phó giao cảm vượt trội làm giảm sút khả năng thích nghi”. Rôgiơđêxtơvenxcaia (1980) với cộng sự qua các thực nghiệm đã nhận xét rằng: khả năng làm việc giảm sút khi có stress do mệt mỏi nảy sinh ở những người có hệ thần kinh yếu sớm hơn những người có hệ thần kinh mạnh. Nhưng tác giả cũng cho rằng, khả năng làm việc khi có stress không phụ thuộc một các tuyệt đối vào độ mạnh của hệ thần kinh.
Những người có hệ thần kinh mạnh có thể bị stress mạnh hơn, trong những trường hợp tác nhận gây stress là những tín hiệu dơn điệu và kéo dài. Nhưng ở những người hệ thần kinh yếu bị stress do các tác động đơn điệu kéo dài lại có xác suất nhỏ hơn. Meclin (1981) đã nhận xét rằng những người có hệ thần kinh yếu có độ nhạy cảm tri giác lớn hơn những người có hệ thần kinh mạnh. Điều đó cho phép ông chỉ ra những khác biệt của stress ở từng cá nhân không chỉ phụ thuộc vào độ mạnh, yếu của các quá trình 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thần kinh mà còn phụ thuộc vào một loạt thuộc tính khác của hệ thần kinh và của các quá trình thần kinh và của các quá trình tâm lý [10].
Myers cùng nhiều tác giả khác đi tìm sự liên quan giữa điện não đồ với stress và đã phát hiện có nhiều cơ chế thay đổi hoạt tính điện nhịp của não ở những giai đoạn khác nhau của stress, cũng như có sự thay đổi khác nhau của điện não đồ của từng cá nhân trong những điều kiện gây stress. Raykôvski (1979) cùng một loạt các tác giả khác đã chỉ ra mối tương quan giữa các thông số sinh lý (điện não đồ, điện tâm đồ, phản ứng điện da, hàm lượng catecholamine, corticosteroid trong máu và nước tiểu), các thông số biểu thị quá trình tâm lý và các phản ứng cảm xúc. Trên cơ sở các mối tương quan ấy người ta đưa ra các thông số biểu thị những đặc điểm và độ sâu của trạng thái stress của con người. Kôrôlenkô (1978) cho rằng nghiên cứu stress lâu dài cho thấy chủ yếu không phải là trình độ thích nghi sinh lý mà là trình độ thích nghi tâm lý mới là thông số nhạy nhất, biểu thị trạng thái thể chất và trạng thái tinh thần của con người.
Chúng tôi cho rằng đây là nhận định rất quan trọng nói lên vai trò của yếu tố tâm lý trong các tình huống xuất hiện nhân tố gây stress. Những công trình rộng lớn nghiên cứu các thông số sinh hóa của stress được tiến hành trong phòng thực nghiệm của M. Phrankenhoide đã đi đến kết luận rằng: Hiệu quả của các yếu tố tâm lý xã hội gây ra ở hệ thống giao cảm là do sự đánh giá của con người về sự cân đối giữa một bên là độ gay gắt của tình huống gây stress và bên kia là khả năng của từng người đối phó với các nhân tố gây stress. Ferreri Trưởng khoa Tâm thần và Tâm lý y học thuộc bệnh viện Saint – Antoine, (Paris, Pháp), với tác phẩm “Stress từ bệnh học tâm thần đến cách tiếp cận trong điều trị” đã khẳng định cơ chế sinh bệnh và biểu hiện lâm sàng của các rối loạn do stress là rất đa dạng và phức tạp.
Tác phẩm đã trình bày một cách ngắn gọn và rõ ràng các phản ứng thích nghi bình thường, 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phản ứng thích nghi bệnh lý, sự tham gia của nhân cách, môi trường và nghề nghiệp vào phản ứng stress. Các phản ứng thần kinh thể dịch và các biểu hiện rối loạn do stress [30]. Những nghiên cứu trên chứng tỏ rằng những biểu hiện tâm lý của stress được phản ánh trong những thay đổi của các chức năng sinh lý là tất yếu, vì các chức năng sinh lý là cơ sở của các chức năng tâm lý. Sự tồn tại của mối tương quan đó cho phép sử dụng các thông số của sự thay đổi (có tính chất stress) của các chức năng sinh lý làm thông số cho stress tâm lý.
Đồng thời mối tương quan này hoàn toàn không phải là trọn vẹn và không phải đối với tất cả mọi biểu hiện tâm lý của stress đều có thể tìm thấy những thay đổi sinh lý liên quan đến chúng. Nghiên cứu stress dưới góc độ Tâm lý học là phương hướng nghiên cứu hiện đại. Nếu như trước đây những tài liệu khoa học đã công bố về stress phần lớn thuộc lĩnh vực sinh lý học và y học, thì trong những năm gần đây ngày càng có nhiều tác giả đề cập đến vấn đề tâm lý học của stress trong các công trình tâm lý học kỹ thuật, tâm lý học lao động, vệ sinh lao động, tổ chức lao động, các vấn đề xã hội và tâm lý xã hội.