LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng tất yếu và là một yêu cầu khách quan đối với bất kỳ quốc gia nào trong giai đoạn phát triển hiện nay. Tuy nhiên, tiến trình này ngoài việc tạo ra những thuận lợi, cơ hội nhất định cho các quốc gia tham gia hội nhập, còn đặt các nước này trước những khó khăn, thách thức không nhỏ. Lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế đặt các doanh nghiệp của các quốc gia đang phát triển nói chung, hệ thống NHTM nói riêng, trước môi trường kinh doanh mới với những áp lực cạnh tranh gay gắt cùng những đối thủ không cân sức.
Từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu, phân tích, đưa ra những nhân tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả trong hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn hội nhập hiện nay để từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM là một vấn đề cấp thiết. Đó cũng là lý do chọn đề tài: “PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM”. Vấn đề nghiên cứu: Tính hiệu quả của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2005-2011. - Hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng là gì? - Thực trạng hoạt động hiện nay của hệ thống NHTM Việt Nam như thế nào? - Các nhân tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam trong quá trình hội nhập? - Những giải pháp kiến nghị nào cần đưa ra để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam? LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Mục tiêu nghiên cứu: Từ các bài nghiên cứu trước đây tại một số quốc gia trên thế giới, tác giả tổng hợp lại các yếu tố chính tác động đến hiệu quả của hệ thống ngân hàng và từ đó xây dựng một mô hình các nhân tố tác động đến hiệu quả của các NHTM Việt Nam. Phƣơng pháp nghiên cứu: Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để giải quyết vấn đề nghiên cứu. Trong đó, luận văn sử dụng phương pháp Stochatic Frontier Analysis (SFA) để tính toán biến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam, sau đó sử dụng mô hình 2SLS và Tobit để phân tích các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện dựa trên nguồn số liệu về hiệu quả hoạt động của 30 NHTM Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2011.
Nội dung nghiên cứu: - Cơ sở lý luận về tính hiệu quả của hệ thống NHTM - Đánh giá thực trạng hiệu quả của hệ thống NHTM Việt Nam, xem xét các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của hệ thống. - Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam. Ý nghĩa của luận văn: Bài nghiên cứu hướng đến việc đưa ra những giải pháp thiết thực, khả thi nhằm bổ sung thêm một kênh tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan có thẩm quyền và một số ban ngành liên quan trong việc giải quyết các vấn đề hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHTM VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM 1.
Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Ngân hàng Thương mại là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng. Có thể nói rằng ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bật nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xa hội sẽ được huy động, tập trung lại, đồng thời sử dụng vốn đó để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân để phát triển kinh tế xã hội.
Bản chất của ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp và là một đơn vị kinh tế. Ngân hàng thương mại hoạt động trong một ngành kinh tế, có cơ cấu, tổ chức bộ máy như một doanh nghiệp bình đẳng trong quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp khác, phải tự chủ về kinh tế và phải có nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước như các đơn vị kinh tế khác. Hoạt động của ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh. Để hoạt động kinh doanh, các ngân hàng thương mại phải có vốn (vốn dược cấp nếu là ngân hàng công, được cổ động đóng góp nếu là ngân hàng cổ phần…) phải tự chủ về tài chính (tự lấy thu nhập để bù đắp chi phí); đặc biệt hoạt động kinh doanh cần đạt đến mục tiêu tài chính cuối cùng là lợi nhuận, hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cũng không nằm ngoài xu hướng đó.
Hoạt động kinh tế của ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Đây là lĩnh vực “đặc biệt” vì trước hết nó liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành, liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 mặt khác, lĩnh vực tiền tệ ngân hàng là lĩnh vực “nhạy cảm”- nó đòi hỏi một sự tôn trọng và khéo léo trong điều hành hoạt động ngân hàng để tránh những thiệt hại cho xã hội. Tóm lại, ngân hàng thương mại là loại hình định chế tài chính trung gian hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Đây là loại định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bật nhất trong nền kinh tế thị trường, góp phần tạo lập và cung ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện và thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển.
Hiệu quả hoạt động của NHTM 1. Khái niệm hiệu quả hoạt động Trong hoạt động của NHTM, theo lý thuyết hệ thống thì hiệu quả có thể được hiểu ở hai khía cạnh như sau: (i) Khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác. (ii) Xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng. Sự lành mạnh của NHTM liên hệ chặt chẽ tới sự ổn định và phát triển của nền kinh tế vì NHTM là tổ chức trung gian tài chính kết nối khu vực tiết kiệm với khu vực đầu tư của nền kinh tế.
Do đó, sự biến động của nó có ảnh hưởng đến các ngành kinh tế quốc dân khác.Rose, giáo sư kinh tế học và tài chính trường đại học Yale thì về bản chất NHTM cũng có thể được coi như một tập đoàn kinh doanh và họat động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép. Tuy nhiên, khả năng sinh lời là mục tiêu mà các ngân hàng quan tâm hơn cả vì thu nhập cao sẽ giúp các ngân hàng có thể bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị phần, thu hút vốn đầu tư. Theo định nghĩa trong cuốn “Từ điển toán kinh tế, thống kê, kinh tế lượng Anh_Việt”, trang 255 của PGS.TS Nguyễn Khắc Minh thì “Hiệu quả - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Efficiency” trong kinh tế được định nghĩa là “ mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ” và “ khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào”. Như vậy, có thể hiểu hiệu quả là mức độ thành công mà các doanh nghiệp và ngân hàng đạt được trong việc phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, nhằm đạt được một mục tiêu nào đó.
Phân loại hiệu quả và đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM Phân loại hiệu quả Mục tiêu của các nhà sản xuất có thể đơn giản là cố gắng tránh lãng phí, bằng cách đạt được các đầu ra cực đại từ các đầu vào giới hạn hoặc bằng việc cực tiểu hóa đầu vào trong sản xuất các đầu ra đã cho. Trong trường hợp này, khái niệm hiệu quả tương ứng với cái mà chúng ta gọi là hiệu quả kỹ thuật (khả năng sử dụng cực tiểu hóa đầu vào để sản xuất một vectơ đầu ra cho trước, hoặc khả năng thu được đầu ra cực đại từ một vectơ đầu vào cho trước), và mục tiêu tránh lãng phí của các nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt được mức hiệu quả kỹ thuật cao. Ở mức cao hơn, mục tiêu của các nhà sản xuất có thể đòi hỏi sản xuất các đầu ra đã cho với chi phí cực tiểu, hoặc sử dụng các đầu vào đã cho sao cho cực đại hóa doanh thu, hoặc phân bổ các đầu vào đầu ra sao cho cực đại hóa lợi nhuận. Trong các trường hợp này, hiệu quả tương ứng được gọi là hiệu quả kinh tế (khả năng cho biết kết hợp các đầu vào nhân tố cho phép tối thiểu hóa chi phí để sản xuất ra một sản lượng nhất định), và mục tiêu của các nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt mức hiệu quả kinh tế cao (tính theo các chỉ tiêu như chi phí, doanh thu hoặc lợi nhuận).
Như vậy, hiệu quả là phạm trù phản ánh sự thay đổi công nghệ, sự kết hợp và phân bổ hợp lý các nguồn lực, trình độ lành nghề của lao động, trình độ quản lý… Nó phản ánh quan hệ so sánh được giữa kết quả kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt đựợc kết quả đó. Đánh giá hiệu quả hoạt động LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Đánh giá hiệu quả họat động của hệ thống NHTM có thể được chia làm hai nhóm là hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối: (i) Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tuyệt đối: (hiệu quả họat động = kết quả kinh tế - chi phí bỏ ra để đạt đựợc kết quả đó) cho phép đánh giá hiệu quả họat động của NHTM theo cả chiều rộng và chiều sâu. Tuy nhiên, loại chỉ tiêu này trong một số trường hợp lại khó có thể thực hiện so sánh được. Ví dụ: Những ngân hàng có nguồn lực lớn thì tạo ra lợi nhuận lớn hơn những ngân hàng có nguồn lực nhỏ, nhưng không có nghĩa là những ngân hàng lớn lại có hiệu quả lớn hơn các ngân hàng nhỏ.