Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận - _ Chương 2: Phương pháp nghiên cứu - _ Chương 3: Kết quả nghiên cứu Các yêu tô được đê cập đên: - _ Lợi ích mang lại của nhà ở Hà Nội - Su hấp dẫn từ lựa chon nhà ở khác ngoài Hà Nội - Anh hưởng của xã hội đến quyết định mua nhà ở Hà Nội - Anh hưởng của giá cả đến quyết định mua nhà ở Hà Nội - Phuong hướng căn hộ - _ Quyết đỉnh mua nha 3. Đồi tượng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng hướng đến: Những người nhập cư, chuẩn bị nhập cư, đã nhập cư, thường trú hay sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, sinh sống và làm việc, có ý định mua nhà tại Hà Nội Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu và phân tích những yếu tố liên quan tác động đến quyết định mua nhà của mọi người. Đóng góp đề tài mang lại Đầu tiên, về đóng góp của đề tai, ta xét trên hai phương diện cơ bản nhất, “phương diện lý luận” và “phương diện thực tiễn”. - Phuong diện lý luận: tong quát, đưa ra những thước đo về mức độ cần thiết của các yếu tố và những lý thuyết, mô hình liên quan đến van dé thương mại như mua ban, trao đổi hàng hóa.
- Phuong diện thực tiễn: Kiểm định và đánh giá mức độ tác động của các yếu tố, từ đó góp phần đưa ra những khuyến nghị thỏa đáng cho những chính sách mới trong việc giải quyết những vấn đề còn tồn đọng về đất đai Hà Nội nói chung và cho những người đang có ý định chuyển đến Hà Nội sinh sống và làm việc nói riêng. SV: Lê Hoàng Đức - 11191094 5 CHUONG I: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Phân tích các nhân tô trong mô hình nghiên cứu dé xuât và các khái niệm liên quan 1. Mô hình nghiên cứu dé xuât: Trước tiên, chúng ta đề cập đến mô hình thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action).1: Mô hình thuyết hành động hợp lý Niềm tin và sự Thái độ Xu hướng hành Hành vi thực vi > sự Niềm tin quy Quy chuẩn chủ chuẩn và động cơ Có một mô hình được gọi là Thuyết hành động hợp lý (TRA), được phát triển bởi Ajzen & Fishbein từ năm 1967, được chỉnh sửa và mở rộng theo thời gian.
Theo mô hình này, xu hướng tiêu dùng là yếu tố tốt nhất dé dự đoán hành vi tiêu dùng. Đề hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng mua, chúng ta cần xem xét hai yêu t6 khác nhau là thái độ và chuẩn chủ quan của khách hàng. Thái độ của khách hàng được đo lường thông qua nhận thức về các thuộc tính của sản phẩm. Người tiêu dùng sẽ chúý đến các lợi ích và mức độ quan trọng của các thuộc tính khác nhau dé đưa ra quyết định mua.
Nếu chúng ta biết được trọng số của các thuộc tính này, chúng ta có thể dự đoán gần như chính xác kết quả lựa chọn của người tiêu dùng. Chuẩn chủ quan của khách hàng được đo lường thông qua y kiến của những người có liên quan đến người tiêu dùng như gia đình, bạn bè hay đồng nghiệp. Các người này có thé ảnh hưởng đến hành vi mua của người tiêu dùng dựa trên mức độ dong tình hoặc phan đối đối với quyết định mua. Mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào động lực của người tiêu dùng dé theo đuôi mong muốn của những người này.
Mức độ ảnh hưởng của những người liên quan va động lực của người tiêu dùng là hai yếu tố quan trọng dé đánh giá chuẩn chủ quan. Mức độ thân thiết của những người liên quan đối với người tiêu dùng càng mạnh, sức ảnh hưởng của họ đến quyết định mua càng lớn. SV: Lê Hoàng Đức - 11191094 6 Trong các mô hình lý thuyết hành động hợp lý, niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm hoặc thương hiệu sẽ ảnh hưởng đến thái độ của họ đối với hành vi mua hàng, từ đó ảnh hưởng đến xu hướng mua hàng của họ chứ không trực tiếp tác động đến hành vi mua hàng của họ. Do đó, thái độ có thể giải thích lý do của xu hướng mua sắm của người tiêu dùng, trong khi xu hướng là yếu tố tốt nhất để giải thích hành vi mua hàng của họ.
Tuy nhiên, theo Ajzen (1991), lý thuyết hành vi dự định TPB (Theory of Planned Behavior) đã được đưa ra vì sự hạn chế của hành vi con người mà cá nhân có ít sự kiểm soát. Theo đó, yếu tố thứ ba mà Ajzen cho răng ảnh hưởng đến ý định của con người là yếu tố "nhận thức kiêm soát hành vi". Yếu tố này phản ánh việc một cá nhân dễ hay khó trong việc thực hiện hành vi và hành vi đó có bị kiểm soát hay hạn chế hay không.2: Mô hình lý thuyết hành vi dự định đánh giá Niềm tin quy chuẩn và động co Niém tin kiém soát và sự dễ sử Kiếm soát dụng hành vi Một hành vi được anh hưởng bởi ba nhân tố. Nhân tổ đầu tiên là thái độ, là đánh giá tích cực hoặc tiêu cực về hành vi.
Nhân tố thứ hai là ảnh hưởng xã hội, mô tả sức ép xã hội ma con người cảm nhận dé thực hiện hay không thực hiện hành vi đó. Cuối cùng, TPB được dé xuất bởi Ajzen, bổ sung yếu tô kiếm soát hành vi cảm nhận vào mô hình TRA. Kiểm soát hành vi cảm nhận phản ánh sự dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi, phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và cơ hội. Yếu tố kiểm soát hành vi tác động trực tiếp đến xu hướng thực hiện hành vi, và nếu đương sự chính xác trong cảm nhận về mức độ kiểm soát của mình, thì kiểm soát hành vi còn dự báo cả hành vi.
TPB được xem như tối ưu hơn mô hình TRA trong việc dự SV: Lê Hoàng Đức - 11191094 7 đoán và giải thích hành vi của người tiêu dùng trong cùng một nội dung và hoàn cảnh nghiên cứu. Vì TPB b6 sung yếu t6 kiểm soát hành vi cảm nhận, giúp khắc phục nhược điểm của TRA. Ngoài ra, chúng ta còn có lý thuyết về mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model). Là một trong những phần mở rộng có ảnh hưởng nhất của thuyết hành động hợp lý (TRA) được phát triển bởi Fred Davis và Richard Bagozzi vào năm 1989.
TAM thay thé nhiều yếu tố về thái độ của TRA bằng hai yếu tố chấp nhận công nghệ là tính dễ sử dụng và nhận thức sự hữu ích: - _ Nhận thức sự hữu ích được Davis định nghĩa là: Mức độ mà một người tin rang sử dụng một hệ thống cụ thé có thé sẽ làm nâng cao hiệu suất cộng việc của người đó. - Tinh dễ sử dụng được Davis định nghĩa là: Mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thong cu thé không cần phải nỗ lực và dễ dàng sử dụng hệ thông đó. Mô hình TAM gặp phải tình trạng thiếu biến liên quan đến việc kiểm soát hành vi bên ngoài như thời gian, cơ hội và hợp tác với người khác. Cùng với đó TAM không có biến giải thích cho yếu tố văn hóa, xã hội cần thiết phải giải thích trong hành vi.
Dựa trên 3 lý thuyết cơ bản đã đề cập ở trên, việc áp dụng mô hình lý thuyết vào nghiên cứu giải thích ý định mua nhà của mỗi cá nhân, bao gồm biến phụ thuộc là quyết định mua nhà và các biến độc lập ảnh hưởng đến ý định này. Việc tập trung phân tích vào những yếu tố đã được chứng minh bởi các học thuyết khiến quyết định SV: Lê Hoàng Đức - 11191094 8 mua nhà trở nên dễ dàng và hợp lý hơn. Vì vậy, việc sử dụng mô hình kết hợp giữa TPB và TAM là phù hợp đề giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua nhà tại Hà Nội. Cả hai mô hình TAM và TPB đều là những mô hình đã được sử dung rộng rãi trong nghiên cứu hành vi khách hàng tại nhiều lĩnh vực khác nhau, không chỉ trong ngành tài chính và ngân hang.
Các mô hình này đã được kiểm chứng tính thực tế thông qua các công trình khoa học của các nhà nghiên cứu hàng đâu trên toàn thê giới Hình 1.4: Mô hình kết hợp TPB va TAM: Nhận thức tính hữu dụng 7 Thái độ Nhận thức tính Quyết định hành vi dễ sử dụng Chuẩn chủ quan Hành vi Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm dựa trên mô hình TAM đầu tiên đã chỉ ra rằng yêu tố "Thái độ" không phải là trung gian đầy đủ cho sự tác động từ "Nhận thức sự hữu ích" đến "Quyết định hành vi”. Nghiên cứu của Davis, Bagozz1 và Warshaw (1989, trích trong Chutter, M.Y, 2007) về VIỆC SỬ dụng hệ thong mới đã chứng minh rằng "Nhận thức sự hữu ich" và "Nhận thức tinh dễ sử dụng" có tác động trực tiếp đến ý định sử dụng. Do đó, nghiên cứu này chỉ tập trung xem xét tác động trực tiếp của "Nhận thức sự hữu ích" và "Nhận thức tính dễ sử dụng" đến ý định hành vi. Trong mô hình TPB và TAM được đề xuất, yếu tố "Nhận thức kiểm soát hành vi" đã bao gồm yếu tố "dé sử dụng", vì vậy không cần xét đến yếu tố "Nhận thức tính dễ sử dụng" trong mô hình dưới đây.5: Mô hình kết hợp TPB và TAM sử dụng trong đề tài: Nhận thức sự hữu ích Chuẩn chủ quan Quyết định hành vi Nhận thức kiểm soát hành vi SV: Lê Hoàng Đức - 11191094 9 1.
Mô hình kết hop TPB, TAM và các yếu tố khác Bên cạnh các yêu tô từ mô hình TPB và TAM như đã nêu trên, nghiên cứu còn xét đến các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến ý định sử dụng. - Su hấp dẫn đến từ những lựa chọn nhà ở khác ngoài Ha Nội: Bên cạnh những căn nhà ở Hà Nội đang dan thâm hut số lượng do quỹ dat và giá trị tăng nhanh chóng mặt (tình trạng “khát” do lượng người nhập cư cao), những căn nhà ở ngoài Hà Nội vẫn còn tồn tại rất nhiều. Jones và cộng sự (2000) chi ra rang Sự hap dẫn của các sản phẩm thay thế được là một trong 3 loại rào cản chuyền đôi (Mối quan hệ giữa cá nhân và Nhận thức chi phí chuyên đổi). Xét trong thực tế, năm 2015, thành phố có 8 khu công nghiệp hoạt động, với 1.434,2 ha và khoảng 138.581 công nhân, người lao động; năm 2020 có tổng số 10 khu công nghiệp hoạt động với diện tích 1.347,42 ha; trong đó, có 9 khu với diện tích 1.