CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm buôn lậu và gian lận thương mại 1. Khái niệm buôn lậu. “ Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, trao đổi hàng hoá cũng không ngừng’phát triển:và làm xuất hiện tầng lớp thương nhân chuyên trung gian trao đổi hàng hoá giữa người sản xuất và người tiêu dùng.
Hoạt động của tầng lớp thương nhân khiến cho việc trao đổi hàng hoá không chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia mà ngày còn phát triển rộng trên phạm vi toàn cầu. Sự mở rộng phạm vi của hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản xuất dần đi tới sự chuyên môn hoá cao. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế thì hoạt động BL, GLTM cũng phát triển làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia tham gia thương mại quốc tế. Có thể nói buôn lậu là hiện tượng kinh tế - xã hội tiêu cực, phức;tạp, xuất hiện trong hoạt động lưu thông hàng hoá cùng với sự ra đời của hàng rào thuế quan.
Một trong những nguyên nhân tồn tại và phát triển của tình trạng buôn lậu là sự chênh lệch về giá cả và nhu cầu sử dụng hàng hoá ở các vùng địa lý khác nhau, giữa các nền kinh tế có sức sản xuất khác nhau.” Hiện nay, khái niệm về buôn lậu vẫn còn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi. Một số quốc gia trên thế giới thì.coi BL là hành vi GLTM đặc biệt nguy hiểm. Công ước Quốc tế Nairobi đã đưa ra khái niệm "Buôn lậu là gian lận thương mại nhằm che giấu sự kiểm tra, kiểm soát của hải quan bằng mọi thủ đoạn, phương tiện trong việc đưa hàng hoá lén lút qua biên giới" [37, tr. Ở Việt’Nam, "buôn lậu" có lúc được hiểu là "Mua bán lén lút, trái phép những hàng hoá thuộc diện Nhà nước cấm hoặc Nhà nước thống nhất quản lý"[7, tr.
Theo Từ điển Tiếng Việt, buôn lậu có nghĩa là “buôn bán hàng hoá trốn thuế hoặc hàng quốc cấm”[49, tr.87]; còn theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì định 5 nghĩa “buôn lậu” là “hành vi buôn bán trái phép qua biên giới những loại hàng hoá hoặc ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, những vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá mà Nhà nước cấm xuất khẩu hay nhập khẩu hoặc buôn bán hàng hoá nói chung mà trốn thuế và trốn sự kiểm tra của hải quan; hành vi buôn bán trốn thuế, lậu thuế những loại hàng hoá ở trong nước mà Nhà nước cấm kinh doanh”[22, tr. Như vậy, từ quan điểm trên có thể rút khái niệm: “Buôn lậu là buôn bán trái phép qua biên giới các loại hàng hoá, tiền tệ nói chung, kể cả các loại hàng cấm hoặc hàng không cấm, vi phạm các quy định về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, tiền tệ mà nhà nước đã ban hành”. Khái niệm gian lận thương mại Những năm gần đây, xuất hiện một thuật ngữ mới luôn gắn liền với BL là GLTM. Đây là một thuật ngữ còn đang được tranh luận gay gắt về khái niệm.
Theo từ điển tiếng Việt, GLTM là hành vi “dối trá, buôn bán gian lận” trong hoạt động thương mại. Người có hành vi GLTM gọi là gian thương, tức là người có nhiều mưu mô, lừa lọc: “Kẻ buôn bán gian lận và trái phép - Thông đồng với gian thương”. Trong’dân gian, GLTM gắn liền với thành ngữ “buôn gian bán lận” và dùng để chỉ những thủ đọan, mánh khóe lừa lọc người khác để thu lợi bất chính. Hành vi “buôn bán gian lận” trong dân gian được hiểu bao gồm một số thủ đoạn như: hàng xấu;nói tốt, ít nói’nhiều, rẻ nói đắt, cân đong không chính xác, buôn bán hàng cấm lén lút, giấu giếm trốn thuế.
Phân biệt buôn lậu và gian lận thương mại “Thực tế hiện nay ở Việt Nam cũng như một số quốc gia khác, hai khái niệm BL và GLTM chưa được,phân định rõ ràng.”’ “Rất nhiều nước trên thế giới coi BL là hành vi GLTM là đặc biệt nguy hiểm. Tại Hội nghị quốc tế lần thứ năm (1995) về chống GLTM của Tổ chức hải quan thế giới tại Brúcxen (Bỉ) đã xếp BL vào trong các hình thức GLTM, và là một loại GLTM đặc biệt nguy hiểm.” “Công ước quốc tế Nairobi đã đưa ra khái niệm’“Buôn lậu là gian lận thương mại nhằm che giấu sự kiểm tra, kiểm soát của hải quan bằng mọi thủ đọan, mọi 6 phương tiện trong việc đưa hàng hóa lén lút qua biên giới”. “Như vậy, giữa BL và GLTM có sự khác nhau cơ bản. BL là hành vi GLTM nhưng ở mức cao hơn, tính chất phức tạp, nghiêm trọng hơn.
Nó bao hàm các hành vi giấu;giếm để trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của hải.quan tại cửa khẩu hoặc vượt biên mang hàng hóa trái,phép qua biên giới. Còn gian lận,thương mại là việc cố ý.làm trái các quy;định của pháp luật, chính sách, hoặc lợi,dụng sơ hở của pháp luật, chính sách và của các cơ quan quản lý chức năng để thực hiện,hành vi gian dối, lừa gạt nhằm thu lợi bất chính một cách công khai tại nơi kiểm tra, kiểm soát của hải quan. Như vậy phạm vi của khái niệm GLTM của Tổ chức Hải quan thế giới đưa ra rộng hơn khái niệm BL. Mối quan hệ giữa buôn lậu và gian lận thương mại GLTM dù không phải là một tội danh trong luật hình sự, nhưng các dấu hiệu đặc trưng của nó lại trùng hợp với tội BL và BL cũng bao gồm GLTM.
Hội nghị Quốc tế lần thứ V về chống GLTM của tổ chức Hải quan thế giới đã xếp BL vào trong các hình thức GLTM, nhưng coi đó là loại hình GLTM nguy hiểm, đặc biệt. Công ước quốc tế Nairobi cũng đã đưa ra khái niệm BL và GLTM nhằm là việc che dấu sự kiểm tra, kiểm soát của Hải quan bằng mọi thủ đoạn, phương tiện trong việc đưa hàng hoá lén,lút biên giới. Bộ luật hình sự của nước ta đã ghi;nhận tội buôn lậu "buôn bán trái phép, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới" còn công ước quốc tế xử lý 16 loại GLTM có "Buôn bán hàng cấm qua biên giới hoặc ra khỏi sự kiểm soát của Hải quan", "khai báo chủng loại hàng hoá", "khai tăng giảm giá trị hàng hoá". Đây là những hành;vi buôn bán gian lận trái pháp luật mang tính chất giống như BL, "Buôn lậu" từ trước đến nay được nhiều người biết đến hơn là 'gian lận thương mại".
GLTM là thuật ngữ mới xuất hiện, bao gồm nhiều hành vi gian lận, trái pháp luật hơn buôn lậu hay nói cách khác nội hàm của nó rộng hơn nội hàm của BL. Điều này là do ngày càng có nhiều,hiện tượng mới, tiêu cực xảy ra trong xã hội. Vì vậy hai thuật ngữ này thường đi kèm với nhau "Buôn lậu và gian lận thương mại". Những tác động của buôn lậu và gian lận thương mại.
““BL và GLTM được coi là một trong những nguyên nhân chính gây hại nghiêm trọng đến nền kinh tế của một quốc gia. Nó làm suy yếu các ngành công nghiệp, nền sản xuất địa phương, không khuyến khích hàng hóa nhập khẩu hợp pháp và giảm nguồn thu ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, một thực tế đang xảy ra ở phần lớn các nước đang phát triển là tồn tại một nền kinh tế ngầm song hành với các hoạt động kinh tế chính thức. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, gây cản trở và làm lệch;hướng đối với chiến lược phát triển các.ngành sản xuất trong nước.” “Hoạt động BL và GLTM đối với những hàng hóa nhập lậu, trốn thuế thường là những hàng hóa có lợi thế cạnh tranh, đặc biệt là lợi thế về giá,thấp hơn đối với hàng hóa sản xuất trong nước hoặc hàng NK;chính ngạch.
Khi xuất hiện những hàng hóa nhập lậu với một lượng đủ lớn tại một thị trường, sự bình ổn giá cả của thị trường đó sẽ bị phá vỡ. Nguyên nhân tình trạng này là do dung lượng thị trường của Việt Nam ngày càng phát triển, tốc độ phát;triển ngày càng cao, độ mở của nền kinh tế lớn nên giao thương hàng hóa ngày’càng tăng, đi liền với đó là sự xuất hiện của nhiều tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân làm ăn không.đúng đắn, lợi dụng sự sơ hở,của pháp luật và các cơ quan quản lý nhà nước để đưa hàng hóa nhập lậu vào tiêu thụ tại thị trường nội địa.” “Đó là việc nhập lậu các mặt hàng có chất lượng, có năng lực cạnh tranh hơn hàng sản xuất trong nước. Còn với việc nhập lậu những mặt hàng chất lượng kém thì nó sẽ tác động khôn lường đến nền sản xuất trong nước. Hiện nay, tại tuyến biên giới phía Bắc, nhiều hàng hóa kém chất lượng được ồ ạt tuồn về Việt Nam như: gà thải, bánh kẹo, hàng tiêu dùng, quần áo, giày dép.
Khi những mặt hàng kém chất lượng nhập lậu vào thị trường Việt Nam, nó sẽ trở thành một thị trường tiêu thụ hàng hóa dư thừa, ế ẩm của nước ngoài. Không chỉ có thế, khi số lượng hàng hóa này bị trà trộn, thì chất lượng,hàng hóa bị đánh đồng. Đây là một khó khăn rất lớn cho’các[doanh nghiệp trong nước, gây thiệt hại cho người tiêu dùng, 8 tạo ra lợi thế cạnh tranh cho những kẻ buôn lậu, làm ảnh hưởng tới các,doanh nghiệp làm ăn chân chính.” “Với hàng hóa xuất,lậu, tình hình cũng không kém phần nghiêm trọng. Hàng hóa xuất lậu ra nước ngoài thường là những sản phẩm mà Việt Nam đang có lợi thế.
Những hàng hóa này lại bị cấm XK, nên nếu xuất lậu được sẽ mang lại lợi nhuận rất cao. Lợi thế so sánh của Việt Nam chủ’yếu nằm ở tài nguyên thiên nhiên phong phú. Việc xuất lậu những khoáng sản, nguyên liệu thô, các mặt hàng chiến lược, hàng quốc cấm gây ảnh hưởng”lớn đến nền kinh tế vĩ mô. Khi tài nguyên bị khai thác thiếu quy hoạch, tài nguyên đất nước”sẽ nhanh chóng bị suy kiệt, ảnh hưởng nặng nề tới nền kinh tế đất nước ta trong tương lai gần.” “Qua những phân tích trên, có thể thấy rất nhiều tác động tiêu cực từ hoạt động BL và GLTM đến sự phát triển kinh tế: ” - Năng lực cạnh tranh:”Hàng hóa nhập lậu tạo áp lực cạnh tranh không lành mạnh với những sản phẩm sản xuất trong nước hoặc được nhập;khẩu chính ngạch.
Điều này buộc các doanh nghiệp phải:giảm giá để phù hợp với thị trường, nhưng nếu giảm giá vượt quá điểm hòa vốn thì doanh nghiệp.nhập khẩu và doanh nghiệp sản xuất trong nước sẽ không đủ bù đắp chi phí sản xuất, các hoạt động của doanh nghiệp sẽ bị đình trệ và có thể dẫn đến phá sản.