Chương 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT, NGHIÊN CỨU VỀ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT Nội dung chính của Chương này là trình bày những khái niệm, tổng quan về lý thuyết về kinh tế chất thải rắn sinh hoạt làm nền tảng cho việc nghiên cứu và phân tích trong các chương tiếp theo. Phần thứ nhất trình bày khái niệm và cơ sở lý thuyết về chất thải rắn sinh hoạt. Phần thứ hai trình bày các lý thuyết và phương pháp phân tích kinh tế liên quan đến chất thải rắn. Các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước được trình bày trong phần thứ ba.
Sau cùng là phần tóm lược nội dung chính của chương.1 Khái niệm, cơ sở lý thuyết về chất thải rắn sinh hoạt 1.1 Chất thải rắn: còn được gọi là ‘rác’, là một thuật ngữ dùng để chỉ những chất thải ở dạng rắn được con người loại bỏ trong hoặc sau quá trình sản xuất, trao đổi và tiêu dùng. Theo cách phân chia thông thường, phân chia theo nguồn gốc phát sinh thì chất thải rắn được phân chia thành nhiều loại khác nhau như: rác sinh hoạt, chất thải xây dựng, chất thải công nghiệp, chất thải y tế, và chất thải nguy hại. Các chất thải rắn này, theo quan điểm của các nhà kinh tế thì đó là một loại hàng hóa mang tính chất ‘không thể loại trừ và rất khó quản lý, có nghĩa là không thể loại bỏ một cá nhân hoặc tổ chức nào ra khỏi ‘thị trường rác thải’. Việc quản lý, kiểm soát các hàng hóa và dịch vụ có tính chất không thể loại trừ này có thể thực hiện bằng cách nội hóa các chi phí ngoại tác (ví dụ: lệ phí sử dụng dịch vụ thu gom và xử lý), hoặc các biện pháp mệnh lệnh hành chính (command and control), hoặc phối hợp cả hai nhóm biện pháp.
Tại nhiều quốc gia, việc can thiệp của chính phủ vào việc kiểm soát phát thải rắn, hoặc các chất thải khác là việc làm cần thiết. Nhà nước cần có chính sách can thiệp khi việc sản xuất hoặc tiêu dùng các hàng hóa tạo ra các ngoại tác tiêu cực, ví dụ như ô nhiễm môi trường (Jenkins, 1993; Pearce và Turner, 1994).2 Chất thải rắn sinh hoạt: là loại chất thải rắn thông thường, còn được gọi là rác sinh hoạt, là các chất thải ở dạng rắn, được thải ra do quá trình tiêu dùng, sinh hoạt của con người tại các hộ gia đình, đơn vị hay tổ chức. Thành phần của rác sinh 6 hoạt không giống nhau, thay đổi tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế của vùng, tập quán và mức sống của người dân, trình độ nhận thức và dân trí. Nhìn chung thì trong thành phần của rác sinh hoạt đa phần là các loại thực phẩm hữu cơ dư thừa, giấy, bao bì nhựa, thủy tinh, sành sứ, bao bì kim loại, … và cũng có thể chứa một số chất độc hại khác.
Do thành phần chất hữu cơ trong rác thải sinh hoạt chiếm một tỷ lệ cao, và thành phần này mau phân hủy gây ra hiện tượng ô nhiễm mùi hôi tại các bãi phân hủy rác. Điều quan trọng hơn là không những lượng rác thải sinh hoạt tăng mà tính chất nguy hại của chúng cũng tăng dần lên. Tổng số chất thải nguy hại có trong rác sinh hoạt chiếm khoảng 15,7%. Điều này, cho thấy nếu không có sự phân loại và tiêu hủy thích hợp sẽ gây ra nhiều mối hiểm họa cho môi trường.
Mặc dù Nhà nước đã ban hành quy chế quản lý chất thải nguy hại nhưng hiệu lực của quy chế này vẫn chưa được áp dụng triệt để.3 Quản lý chất thải rắn: là quá trình nhiều giai đoạn bao gồm việc thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế hoặc phân hủy và quan trắc các chất thải rắn. Việc quản lý này nhằm mục đích giảm thiểu tác động xấu của rác thải đến sức khỏe con người, cảnh quan và môi trường. Hệ thống quản lý rác thải cũng giúp cho xã hội có thể tái chế và tái sử dụng được một phần các tài nguyên từ rác thải. Các biện pháp quản lý rác thải có khác nhau giữa các nước phát triển và đang pháp triển, giữa vùng nông thôn và đô thị, giữa rác sinh hoạt và các loại chất thải rắn khác.
Việc quản lý rác sinh hoạt từ hộ gia đình, khu dân cư, và các tổ chức hành chính khác thông thường là trách nhiệm của chính quyền địa phương. Hệ thống quản lý hành chính trong lĩnh vực chất thải rắn tại TP.HCM, bao gồm chất thải rắn công nghiệp (CTRCN) và chất thải nguy hại (CTNH), về cơ bản được phân theo 3 cấp chính sau (Tuan và Thuy, 2010): Cấp thành phố: UBND TP và các sở ban ngành trực thuộc UBND TP bao gồm: Sở Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chủ trì, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Khoa học và Công nghệ là các cơ quan chức năng nhà nước đã được phân công trách nhiệm có liên quan nội dung công tác QLCTR. Cấp Quận: Phòng Tài nguyên và Môi trường các quận/huyện là bộ phận được UBND quận/huyện giao thay mặt quản lý về mặt môi trường nói chung trên địa bàn của quận/huyện mình. Tùy đặc điểm của từng địa phương có bố trí số lượng nhân sự khoảng 7 từ 2-4 người phụ trách lĩnh vực môi trường nói chung, không có cán bộ phụ trách riêng về chất thải rắn.
Cấp Phường: chưa có bố trí nhân sự riêng phụ trách theo dõi lĩnh vực môi trường. Công ty MTĐT, các công ty Dịch vụ công ích, Hợp tác xã công nông: là các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ môi trường.1: Hệ thống quản lý hành chính chất thải rắn đô thị tại TP.HCM Bộ TN & MT UBND TP UBND Sở Tài Chính Sở TN&MT Các Sở Ban ngành khác Quận / Huyện Phòng QLMT Phòng QLCTR Chi cục BVMT Công ty MT Đô thị Phòng Tài nguyên Môi trường Cty Công ích Quận- huyện HTX vận chuyển công nông UBND Phường/ Xã Cán bộ môi trường Nguồn: http://www.jp/env/spc/docs/ 3R-Vietnam-3R-Consultation-Mtg-Dec05_7.4 Hệ thống thu gom rác sinh hoạt: Hệ thống thu gom chất thải rắn sinh hoạt là thuật ngữ dùng để mô tả cách thức tổ chức của xã hội để thu gom rác thải từ hộ gia đình và đưa về đến các bãi rác, nơi xử lý và phân hủy. Thu gom rác là một hoạt động đầu tiên trong hệ thống quản lý rác thải rắn.HCM hiện nay tồn tại hai hệ thống thu gom rác là các tổ chức công lập và dân lập. Tuy nhiên, phần lớn rác sinh hoạt từ các hộ gia đình là do lực lượng thu gom dân lập thực hiện.
Lực lượng công lập thực hiện việc thu gom rác trên đường phố (quét đường), thu gom rác tại các chợ, trung tâm thương mại, cơ quan, trường học, bệnh viện, và thu gom rác tại các khu chung cư. Việc thu gom rác tại các hộ gia đình chủ yếu được thực hiện 3 bước như sau: (1) Bước 1: xe thu gom rác của các lực lượng dân lập, theo định kỳ là 2 hoặc 3 8 ngày, tùy theo địa phương sẽ đi vào các khu vực, đường/hẻm phụ trách để thu gom rác. Các hộ gia đình theo định kỳ về ngày giờ thu gom, sẽ mang rác trong hộ để chuyển cho người thu gom rác. (2) Bước 2: Các người thu gom rác sẽ chuyển rác đến các điểm tập kết, các điểm trung chuyển rác để chuyển lượng rác thu gom được về các xe ép rác, xe vận chuyển khác.
(3) Bước 3, các xe vận chuyển rác có tải trọng lớn, hoặc xe ép rác chuyển rác về bãi xử lý, chôn lấp. Các kết quả nghiên cứu của Châu (2008), Hạnh (năm 2004), Hương (2003), Khải (2005), Thành (năm 2005) cho thấy một số vấn đề vệ sinh môi trường phát sinh trong cách thu gom rác từ hộ gia đình như sau: a) Phương tiện thu gom rác của người thu gom còn rất thô sơ và không kín, gây mùi hôi thối, nước rỉ rác bị rò rỉ, vung vải rác khi lưu thông đến các bô rác; b) Việc thu gom rác nhiều nơi không được tiến hành theo định kỳ, gây trở ngại cho các hộ gia đình; c) Chất lượng vệ sinh tại các điểm hẹn, bô rác không cao: chưa có hệ thống thu gom nước rỉ rác, nhiều mùi hôi, và khí bụi khác. d) Thời gian chờ đợi để chuyển rác từ các xe thu gom rác đến các xe trung chuyển rác tại các điểm tập kết rất lâu, gây nhiều trở ngại cho giao thông trong khu vực, và tốn thời gian cho người thu gom rác. e) Trang bị bảo hộ lao động cho người thu gom rác và làm việc tại các điểm trung chuyển là rất thô sơ, đơn giản chỉ là quần áo tay dài, khẩu trang và găng tay, đưa đến nhiều khả năng ảnh hưởng xấu đến sức khỏe nếu làm việc lâu dài.5 Hệ thống xử lý rác sinh hoạt Là thuật ngữ dùng để chỉ các cách thức mà xã hội xử lý các chất thải rắn.
Trong số các biện pháp xử lý chất thải rắn, thì biện pháp đang được sử dụng phổ biến nhất tại các tỉnh thành là biện pháp chôn lấp vì lý do chi phí của biện pháp này là thấp nhất khi so với các phương pháp khác. Tuy nhiên, biện pháp này đa số chưa đạt tiêu chuẩn về môi trường, đưa đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước và khí do mùi rác bốc ra, và chiếm nhiều diện tích đất. Công tác vận hành tất cả các bãi chôn lấp do xí nghiệp Xử Lý Chất Thải, thuộc CITENCO, thực hiện. Toàn bộ hệ thống phân loại chất thải rắn làm phế liệu, các cơ sở tái sinh, tái chế phế liệu đều do tư nhân thực hiện.
Một phần chất thải rắn công nghiệp được thu gom, xử lý và tái sinh tái chế tại một số công ty tư nhân và cơ sở nhỏ. Chất thải rắn y tế được thu gom và xử 9 lý bằng phương pháp đốt tại Bình Hưng Hòa. Chôn lấp là công nghệ duy nhất được sử dụng để xử lý chất thải rắn đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay TP.HCM đang xây dựng Khu liên hiệp xử lý chất thải rắn Đa Phước tại Bình Chánh, có khả năng tiếp nhận 5.000 tấn rác/ngày và chưa hoàn tất nên chưa tiếp nhận xử lý rác.
Khu liên hiệp Đa Phước được xây dựng gồm các chức năng chế biến rác, thu khí biogas để phát điện (http://hepa.vn/content/tintuc.2 Các cơ sở lý thuyết về kinh tế chất thải rắn 1.1 Cân bằng vật chất trong mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường Như đã đề cập ở phần trên, chất thải rắn bao gồm những vật chất rắn được thải ra trong quá trình sản xuất và tiêu dùng của con người trong hệ thống kinh tế.