Chương 1: Những vấn đề chung về xuất khẩu và phân tích biến động xuất khẩu trong doanh nghiệp 1. Một số khái niệm trong xuất khẩu - Giá trị kim ngạch trong xuất khâu: là tổng số tiền thu được của quá trình xuất khâu trong một khoảng thời gian (thường theo quý hoặc năm). Chỉ tiêu này được sử dụng khi thể hiện kết quả hoạt động xuất khẩu của một ngành ở tầm vĩ mô. Trong phạm vi nhỏ một doanh nghiệp ta xét chỉ tiêu này ngang băng với doanh thu xuất khâu.
- Doanh thu xuất khẩu: là tổng giá trị kinh tế thu được do việc bán hàng hóa, sản pham, cung cấp dịch vụ cho khách bằng hình thức xuất khẩu cho khách hàng mang lại, làm tăng vốn chủ sở hữu. - Tỷ giá ngoại tệ xuất khâu: là giá của một đơn vi ngoại tệ tính theo đồng tiền trong nước. Đây là chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả của đơn hàng xuất khẩu. - Đồng tiền thanh toán trong xuất khẩu: là phương tiện và công cụ thanh toán cho các đơn hàng xuất khẩu.
Ví dụ là các đồng ngoại tệ như USD hay EUR. Đặc điểm của xuất khẩu hàng hóa Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh ngoại thương hay chính là hàng hoá dịch vụ của quốc gia này bán cho quốc gia khác. Hoạt động này có một số điểm khác biệt với hoạt động kinh doanh trong nước. Ở Việt Nam hiện nay có thể xuất khẩu hàng hóa theo nhiều phương thức khác nhau như: xuất khâu trực tiếp, gia công hàng xuất khâu hay xuất khâu ủy thác,.
Trong công tác tô chức và quản lý thì mỗi phương thức xuất khâu có nhiều đặc điểm riêng biệt và tiềm năng khác nhau, tuy nhiên đều tạo ra doanh thu và lơi ích kinh tế. Chính vì vậy khi doanh nghiệp muốn phân tích tình hình xuất khâu cần phân tích chỉ tiết và cụ thể theo từng phương thức xuất. Thị trường xuất khâu cũng là một đặc điểm quan trọng của hoạt động xuất khẩu hàng hóa. Mỗi một thị trường xuất khâu có những tiềm năng và đặc tính riêng, vì vậy mà khi doanh nghiệp muốn tham gia xuất khẩu vào thị trường cần phải có sự am hiểu về luật pháp, nắm rõ quy trình và quy định xuất khâu, am hiểu tường tận về thị trường nhập khẩu.
Doanh nghiệp muốn thống kê được tình hình xuất khẩu cần dựa vào thị trường xuất khâu, tìm ra sự thay đổi, biến động trong kết quả kinh doanh tại từng thị trường, từ đó thấy được những ưu điểm và khuyết điểm của từng thị trường. Dựa vào đó đưa ra những giải pháp kip thời và hợp lý dé mở rộng thị trường xuất khẩu. Tiếp theo không thé không ké đến trong xuất khẩu hàng hóa là giá xuất khâu, phương tiện thanh toán và tỷ giá ngoại tệ. Tùy thuộc vào hình thức giao nhận, sự đồng thuận của hai bên và những điều kiện khác mà giá xuất khẩu có nhiều loại, ví dụ: FOB, CIF, CF,.
Để phân tích được giá xuất khâu, doanh nghiệp cần tìm hiểu, nghiên cứu thời điểm xác định giá, so sánh với giá khu vực dé có thé nhận định được rằng giá xuất khẩu như vậy có hợp lý hay không, đem lại lợi ích kinh tế hay không? Thời điểm tính giá xuất khâu cũng ảnh hưởng tương đối đến rủi ro và lợi ích của doanh nghiệp. Hàng xuất khâu cũng được thanh toán bằng nhiều phương thức đa dạng như: ngoại tệ, xuất khẩu trừ nợ, thanh toán bang hàng nhập khẩu. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu Có thé chia các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu thành hai nhóm: nhóm nhân tố khách quan và nhóm nhân tổ chủ quan. Nhóm nhân tổ khách quan: - Chính sách và công cụ kinh tế vĩ mô: eThuế quan: là loại thuế được đánh vào từng đơn vị hàng xuất khẩu.
Mặt hàng may mặc được hưởng mức thuế khá ưu đãi cho đây là một trong những mặt hàng xuất khâu hàng đầu của nước ta. eGiấy phép xuất khẩu: giúp quan lý hoạt động xuất khâu một cách hiệu quả. Tùy theo từng mặt hàng, từng quốc gia và thời gian cụ thể để quyết định giấy phép xuất khẩu. eTy giá hối đoái hiện hành: trong hoạt động xuất khâu, doanh nghiệp cần lưu ý đến yếu tố này vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc thu đổi ngoại tệ sang nội tệ của doanh nghiệp, vì thế tác động trực tiếp đến hiệu quả xuất khẩu của doanh nghiệp.
eCác chính sách dé khuyến khích hoạt động xuất khẩu: được thé hiện ở những chính sách, biện pháp liên quan đến việc tạo nguồn hàng cho xuất khâu, tạo môi trường thuận lợi cho xuất khẩu, hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp tham gia xuất khâu. Trợ cấp xuất khẩu cũng là một cách để thúc đây xuất khẩu với những mặt hàng được hưởng khuyến khích. - Quan hệ kinh tế quốc tế: biểu hiện ở xu thế hợp tác giữa các quốc gia. Hàng hóa xuất khẩu phải đối mặt với những hàng rào thuế quan và phi thuế quan, hàng rào lỏng lẻo hay chặt chẽ phụ thuộc vào quan hệ song phương giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu.
Điều này dẫn đến việc tạo nên các khối kinh tế, chính trị của một nhóm các đất nước, vì thế sẽ ảnh hưởng đến tình hình xuất khâu của doanh nghiệp. - Chính trị và pháp luật: doanh nghiệp cần chấp hành tuyệt đối những điều khoản được quy định trong luật pháp của chính phủ quốc gia nhập khâu vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động mua bán, xuất nhập khâu. Nhóm nhân tố chủ quan: đây là nhóm nhân tố mà doanh nghiệp có thê điều chỉnh sao cho hợp lý và phục vụ tốt nhất cho hoạt động xuất khẩu. - Sức mạnh tài chính: được thé hiện ở quy mô vốn hiện có và khả năng huy động vốn của doanh nghiệp.
Nếu không có vốn thì doanh nghiệp không thé làm được điều gì ké cả khi đã có cơ hội kinh doanh. Sức mạnh tài chính có thé làm hạn chế hoặc giúp doanh nghiệp điều khiển hoạt động kinh doanh của mình dễ dàng hơn, mở rộng các tiềm năng khác của doanh nghiệp, vì vốn là tiền đề cho mọi hoạt động như đầu tư trang thiết bị hiện đại, cung cấp nguồn nguyên vật liệu lớn, đầu tư cơ sở vật chất. trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. - Yếu tô con người: năng lực lãnh đạo và quản trị kinh doanh của ban giám đốc doanh nghiệp là yếu tố hết sức quan trọng, quyết định đến sự thành công trong kinh doanh của doanh nghiệp.
Bên cạnh cán bộ kinh doanh là những người trực tiếp thực hiện các công việc của quá trình xuất hàng hoá. Vì vậy, trình độ và năng lực trong hoạt động xuất khẩu của họ sẽ quyết định tới hiệu quả công việc, theo đó quyết định tới hiệu quả kinh doanh của toàn doanh nghiệp. Trong mọi hoạt động xuất khẩu từ tìm kiếm nguôồn hàng, nghiên cứu thị trường, tìm kiếm khách hàng, thỏa thuận, ký kết hợp déng,. nếu được thực hiện bởi những nhân viên có chuyên môn cao sẽ rút ngắn được thời gian thực hiện, đem lại hiệu quả cao.
-Công nghệ sản xuất: là yếu tố vo cùng quan trọng và không thể thiếu trong việc sản xuất hàng may mặc xuất khẩu, đây là yếu tố có tính cạnh tranh cao. Công nghệ hiện đại giúp doanh nghiệp có năng suất lao động cao, chất lượng tốt, mẫu mã và kiểu dáng hiện đại. Các chỉ tiêu phân tích tình hình xuất khẩu hàng hóa trong doanh nghiệp 1. Chỉ tiêu quy mô xuất khẩu Đây là chỉ tiêu thể hiện quy mô hàng hóa xuất khẩu, đây là chỉ tiêu thời kì và là chỉ tiêu tuyệt đối có thể tính theo đơn bị hiện vật (lượng hàng hóa xuất khẩu) hoặc tính theo đơn vị giá trị ( mức xuất khâu hàng hóa hay doanh thu xuất khẩu).
- Lượng hàng hóa xuất khâu (q): biểu hiện khối lượng hàng hóa được xuất khẩu trong kỳ và chỉ được xác định cho từng loại hàng hóa. Khối lượng hàng hóa xuất khẩu trong kỳ có thể có cả hàng hóa kỳ trước và cũng có thê không bao gồm hết hàng hóa sản xuất kỳ này. - Doanh thu xuất khẩu: là tổng số tiền thu được từ hợp đồng xuất khẩu trong kỳ nghiên cứu. Khi xuất khẩu thanh toán bằng ngoại tệ thì doanh thu xuất khẩu tính bằng tiền Việt Nam được tính theo công thức sau: Doanh thu xuất khẩu = Số lượng hàng x Đơngiá x Tỷ giá (VND) xuất khẩu xuất khẩu ngoại tệ Trong đó tỷ giá ngoại tệ là do liên ngân hàng nhà nước quy định.
Trong trường hợp doanh nghiệp gia công hàng xuất khâu thì doanh thu gia công xuất khẩu sẽ tính băng công thức: Doanh thu gia công=(Số lượng sảnxĐơn giá chỉ) +Chi phí phụ Hàng xuất khẩuphẩm gia côngphí gia côngtrợ gia công Trong đó chi phí phụ trợ sản xuất hàng gia công là những chi phí mua vật liệu phụ trợ mà doanh nghiệp đầu tư thêm cho sản xuất gia công đã được thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng gia công. Khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu doanh thu xuất khẩu còn có chỉ tiêu: chỉ tiêu tổng số lao động và năng suất lao động bình quân trong doanh nghiệp + Tổng số lao động bình quân: là chỉ tiêu phản ánh mức độ điền hình về số lao động trong một thời kỳ của doanh nghiệp. + Năng suất lao động: là chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động sống, NSLD được tính bằng công thức: Mức hàng hóa tiêu thụ trong kỳ NSLĐ = Số lao động bình quân trong kỳ 1. Chỉ tiêu cơ cầu xuất khẩu Cơ cau xuất khẩu hang hóa là chỉ tiêu tương đối vừa là chỉ tiêu tuyệt đối, phản ánh trình độ phát triển kinh tế tương ứng của một doanh nghiệp Khi tính theo đơn vi hiện vật hoặc giá tri có thé dùng chi tiêu tuyệt đối và khi tính theo đơn bị giá trị dùng chỉ tiêu tương đối.
- Chỉ tiêu cơ cấu xuất khâu theo mặt hàng: chỉ tiêu này thé hiện tỷ trọng của mỗi mặt hàng trong tổng số mặt hàng xuất khâu. Qua đó xác định được mặt hàng nào chiếm tỷ trọng lớn nhát là mặt hàng chủ đạo và mặt hàng chiếm tỷ trọng nhỏ nhất là mặt hàng thứ yếu trong xuất khẩu của công ty. - Chỉ tiêu cơ cấu xuất khẩu theo đối tượng xuất khâu: Ty trọng hàng hóa phân theo nước có thé tính theo đơn vị hiện vật ( tan, triệu tấn) hoặc theo đơn vi giá tri (don vi tiền tệ như USD) nếu tính cho nhiều mặt hàng (nhóm hàng hóa) thi chỉ được tính theo đơn vi giá tri (don vi tiền tệ như USD).