Chương 1: Cơ sở lý thuyết về văn hóa doanh nghiệp và Mô hình Camerron va Robert Quinn (CVF) I-Giới thiệu về văn hóa doanh nghiệp 1.Khái niệm văn hóa Từ “văn hóa” có rất nhiều nghĩa. Trong tiếng việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng đề chỉ học thức, lối sống. Theo nghĩa chuyên biệt dé chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn. Trong khi theo nghĩa rộng, thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phâm tinh vi, hiện đại, cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống.
Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa — Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: "Văn hóa là những giá trị vật chất, tính thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử". Trong Từ điền tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm Từ điện học xuất bản năm 2004 thì đưa ra một loạt quan niệm về văn hóa: - Văn hóa là tổng thê nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. - Văn hóa là một hệ thông hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngudi sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội. - Văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh than (nói tổng quát); - Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát): - Văn hóa là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh; - Văn hóa con là cụm từ đề chỉ một nên văn hóa của một thời kỳ lịch sử cô xưa, được xác định trên cơ sở một tông thê những di vật có những đặc điểm giông nhau, ví dụ Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Đông Sơn.
Theo UNESCO: “Van hoa 1a tong thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ay đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiểu - những yêu tô xác định đặc tính riêng ^xx»» của môi dân tộc”. Theo Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”.
Tóm lại, văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham g1a vào việc tạo nên con người và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thê hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triên trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người.
Văn hóa là trỉnh độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chat va tinh thần mà do cơn người tạo ra. 2,Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, từ đó trở thành quy tắc, tập quán quen thuộc ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp đồng thời chi phối tình cảm, cách suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của đoanh nghiệp trong việc theo đuôi và thực hiện các mục đích. Văn hóa doanh nghiệp có những đặc trưng cụ thê riêng biệt. Trước hết, văn hóa doanh nghiệp là sản phâm của những người cùng làm trong một doanh nghiệp và đáp ứng nhu câu giá trị bền vững.
Nó xác lập một hệ thông các giá trị được mọi người trong doanh nghiệp chia sẻ, chấp nhận, đề cao và ứng xử theo các giá trị đó. Văn hóa doanh nghiệp góp phân tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và được coi là truyền thống của riêng mỗi doanh nghiệp. Đề dễ hình dung, chúng ta có thê hiểu văn hóa của doanh nghiệp giống như “cá tính” của doanh nghiệp đó. Ở mỗi cá nhân, cá tính giúp phân biệt người này với người khác, “văn hóa” cũng chính là bản sắc riêng giúp một doanh nghiệp không thê lẫn với doanh nghiệp khác dù có cùng hoạt động trong một lĩnh vực và cung cấp những sản phâm tương tự ra thị trường.
Văn hóa doanh nghiệp có ba nét đặc trưng, đó là: - Tính nhân sinh tức là gắn với con người. Tập hợp một nhóm người cùng làm việc với nhau trong tô chức sẽ hình thành nên những thói quen, đặc trưng của đơn vị đó. Do đó, văn hóa doanh nghiệp có thể hình thành một cách “tự phát” hay “tự giác”. Theo thời gian, những thói quen này sẽ dần càng rõ ràng hơn và hình thành ra “cá tính” của đơn vị.
Nên, một doanh nghiệp, đù muốn hay không, đều sẽ dan hình thành văn hóa của tô chức mình. Văn hóa doanh nghiệp khi hình thành một cách tự phát có thé phù hợp với mong muốn và mục tiêu phát triển của tổ chức hoặc không. Chủ động tạo ra những giá trị văn hóa mong muốn là điều cần thiết nêu doanh nghiệp muốn văn hóa thực sự phục vụ cho định hướng phát triển chung, góp phần tạo nên sức mạnh cạnh tranh của mình. - Tính giá trị: Không có văn hóa doanh nghiệp “tốt” và “xấu” (cũng như cá tính, không có cá tính tốt và cá tính xấu), chỉ có văn hóa phù hợp hay không phù hợp (so với định hướng phát triển của doanh nghiệp).
Giá trị là kết quả thâm định của chủ thể đối với đối tượng theo một hoặc một số thang độ nhất định; và những nhận định này được thê hiện ra thành “đúng - sai”, “tốt - xấu”, “đẹp - xâu”., nhưng hàm ý của “sai” của “xấu”, về bản chất, chỉ là “không phù hợp”. Giá trị cũng là khái niệm có tính tương đối, phụ thuộc vào chủ thể, không gian và thời gian. Trong thực tế, người ta hay áp đặt giá trị của mình, của tô chức mình cho người khác, đơn vị khác, nên đễ có những nhận định “đúng - sai” về văn hóa của một doanh nghiệp nào đó. - Tính ôn định: Cũng như cá tính của mỗi con người, văn hóa doanh nghiệp khi đã được định hình thì “khó thay đôi”.
Qua thời gian, các hoạt động khác nhau của các thành viên doanh nghiệp sẽ giúp các niềm tin, giá trị được tích lũy và tạo thành văn hóa. Sự tích lũy các giá trị tạo nên tính ôn định của văn hóa.Biểu hiện của văn hóa doanh nghiệp Văn hoá doanh nghiệp được biều hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng thường hướng tới việc hình thành một tập hợp các khuôn mẫu hành vi được áp dụng trong các mỗi quan hệ xã hội. Những khuôn mẫu hành vi này có thê được sử dụng để phản ánh bản sắc văn hoá doanh nghiệp. Văn hoá doanh nghiệp của một doanh nghiệp tồn tại dưới 2 hình thức là trực quan và phi trực quan.1Các biểu hiện trực quan của văn hoá doanh nghiệp - Đặc điểm: Bao gồm những kiến trúc đặc trưng của một tổ chức gồm kiến trúc ngoại thất và kiến trúc nội thất bởi nó thể hiện hình ảnh và bộ mặt của công ty trong mối giao tiếp xã hội.
Các doanh nghiệp hiện nay đều xây dựng những công trình phức tập về kiến trúc, đồ sộ về quy mô với mong muốn gây ấn tượng đối với mọi người về sự khác biệt mình. Đó cũng chính là biểu tượng hình ảnh, thể hiện tính cách và bản sắc riêng của công ty. Một số thiết kế nội thất ví dụ như lối đi, không gian làm việc hay thậm chí là cây xanh, khu vực vệ sinh đều được thiết kế cho dễ sử dụng, nhiều tiện ích và không quên tạo ấn tượng thiện trí cùng sự quan tâm. - Nghĩ lỄ, các hoạt động tập thể: Là những hoạt động được dự kiến từ trước và chuẩn bị kỹ lưỡng dưới các hoạt động, sự kiện văn hoá — xã hội chính thức, nghiêm trang, tình cảm được thực hiện định kỳ hay thất thường nhằm thắt chặt mối quan hệ tô chức và vì lợi ích của những người tham dự.
Người quản lý có thê sử dụng lễ nghi để như một cơ hội quan trọng đề giới thiệu về những giá trị mà tổ chức coi trọng ví dụ như nêu gương, khen thưởng cho nhân viên đạt kết quả xuất sắc. - Ngôn ngữ, khâu ngữ: Nhiều tô chức, doanh nghiệp đã sử dụng những câu chữ đặc biệt, khẩu hiệu, ví von, ân đụ hay một sắc thái ngôn từ dé truyén tải một ý nghĩa cu thê đến nhân viên của mình và những người xung quanh.2Các biểu hiện phi trực quan của văn hoá doanh nghiệp - Giá trị, niềm tin và thái độ: Về bản chất, giá trị là khái niệm liên quan đến chuẩn mực đạo đức và cho biết con người cho rằng họ cần phải làm gì. Những cá nhân và tô chức đánh giá cao tính trung thực, nhất quán và sự cởi mở cho rằng họ cần hành động một cách thật thà, kiên định và thăng thắn. Niềm tin là khái niệm đề cập đến việc mọi người cho rang thé nao la dung, thé nao là sai.
Niềm tin của những người lãnh đạo dần dân được chuyền hóa thành niềm tin của tập thé thông qua những giá trị. Thái độ được định nghĩa là một thói quen tư đuy theo kinh nghiệm đề phản ứng theo một cách nhất quan mong muốn hoặc không mong muốn đối với sự vật, hiện tượng. Thái độ được hình thành theo thời gian từ những phán xét và những khuôn mẫu điền hình, thay vì từ những sự kiện cụ thê; thái độ con người là tương đối ôn định và có những ảnh hưởng lâu dài đến động cơ của người lao động. - Giá trị cốt lõi: Là những phẩm chất cao quý nhất trong doanh nghiệp.
Giá trị cốt lõi không thay đôi theo thời gian. Là thước đo mọi hành vi, là nền táng, là những điều “luật bất thành văn” ăn sâu vào trong tiềm thức, ngắm vào máu các thành viên và được thực hiện qua các hành vĩ hằng ngày. Gia tri cốt lõi thực sự thể hiện sự khác biệt của doanh nghiệp.