Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Thực trạng và đề xuất cách dạy văn bản thơ ứng dụng lý thuyết trường nghĩa Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Cơ sở ngôn ngữ học 1. Khái niệm trường nghĩa Để nghiên cứu về tính hệ thống và cấu trúc của ngôn ngữ, lý thuyết về trường nghĩa đã ra đời .Trường nghĩa là một trong những lý thuyết hết sức quan trọng của ngôn ngữ học và đã được các nhà nghiên cứu đề cập từ rất sớm. Đồng thời, nó cũng mang lại những luồng sinh khí mới cho ngôn ngữ học hiện đại trong hoạt động hành chức.
Những tư tưởng về mối quan hệ giữa các từ trong ngôn ngữ đã được nhà bác học người nga M.Pokrovxki (1896) cho rằng: “Từ và ý nghĩa của chúng không tách rời nhau mà liên kết với nhau trong tư tưởng của chúng ta và độc lập với ý thức chúng ta thành những nhóm nhất định. Cơ sở để tập hợp những nhóm như vậy là sự đồng nhất hoặc trái ngược trực tiếp giữa chúng về ý nghĩa, chúng ta đó biết một cách tiên nghiệm rằng các từ như vậy hoặc giống nhau hoặc song hành với nhau trong sự biến đối ý nghĩa và trong lịch sử của chúng, chúng ảnh hưởng lẫn nhau. Chúng ta cũng biết rằng những từ này được dùng trong những tổ hợp cú pháp giống nhau” (dt 5: 243) làm tiền đề cho sự ra đời của khái niệm trường nghĩa còn phải kể đến giả thuyết về “tính tương đối ngôn ngữ” mà hai người được coi là có công lớn lao trong việc nghiên cứu và là Sapir(1921) và Whorf(1956). Các nhà nghiên cứu trên đã làm sáng tỏ quan niệm coi ngôn ngữ là cái phản ánh cuả một dân tộc nào đó.
Mỗi ngôn ngữ có một hệ thống từ vựng riêng. Hệ thống từ vựng này phản ánh cách chia cắt thực tế khách quan và phạm trù hoá hiện thực riêng của từng dân tộc ngay trong bản thân ý nghĩa của các từ. Mỗi cá nhân khi ra đời và học 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cách dùng một ngôn ngữ ( trước hết là tiếng mẹ đẻ ), chính là tiếp thu một cách tự nhiên nhất quan niệm về thế giới của dân tộc, là chủ nhân của thứ ngôn ngữ đó. Cùng quan điểm này Lyons, Jackendoff, Fishman, Hudson cũng đã chỉ ra rằng việc đưa yếu tố này hay yếu tố khác vào từng trường “trường” đều chịu áp lực sự chỉ đạo của tâm lý học ý thức bằng so sánh, đối chiếu.
chúng ta tìm ra sự tương đồng hay đối lập giữa các sự việc, hiện tượng để “chia cắt” chúng thành từng “lát” thích ứng với thói quen tư duy, thói quen ngôn ngữ của chúng. Khi nghiên cứu “bức tranh ý niệm về thế giới trong ngôn ngữ” Jackendoff gọi đó là “thế giới được chiếu lại” (Projected world ) ta không thể không chú ý đến “cách thứ tư duy riêng” – lối cảm, lối nghĩ riêng, từng dân tộc, từng thời đại phản ánh vào các ý nghĩa ngôn ngữ. Mặc dù, các quan niệm này có phần duy tâm song đứng từ góc độ tiếp nhận ngôn ngữ của mỗi cá nhân, đây là quan niệm hợp lý. Tuy nhiên, khái niệm về trường và lý thuyết về trường ngữ nghiã chỉ thực sự tiến hành nghiên cứu từ những năm 1920 và 1930 của thế kỷ XX, bắt nguồn từ những lý thuyết ngôn ngữ học của W.Humboldt và Fde Saussure- người được coi là cha đẻ của ngành ngôn ngữ học hiện đại đã đưa ra một luận điểm có ý nghĩa phương pháp luận: “Ngôn ngữ là một hệ thống trong đó mọi yếu tố đều gắn bó khăng khít với nhau và trong đó giá trị của yếu tố này chỉ là hệ qủa của của sự tồn tại; đồng thời của những yếu tố khác” (14, 222).
Những luận điểm nói trên đó giúp những người nghiên cứu ngôn ngữ sau này có cơ sở để xác lập các trường nghĩa dựa trên sự khảo sát từ vựng một cách có hệ thống. Lý thuyết về các trường từ vựng gắn với tên tuổi các nhà nghiên cứu như: A Jolles (1943), G.Ipsen (1924), J Trier(1934), WPorizig (1934)… Tư tưởng cơ bản của những lý thuyết này là sự khảo sát từ vựng một cách có hệ thống. JTrier là tác giả đầu tiên đưa ra thuật ngữ và khái niệm trường 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong ngôn ngữ học. Nhưng JTrier không dùng khái niệm trường ngữ nghĩa mà chỉ nói tới trường khái niệm và trường từ vựng.
Trường khái niệm là một hệ thống rộng gồm nhiều khái niệm có quan hệ với nhau, được tổ chức lại xung quanh một khái niệm trung tâm. Mỗi trường khái niệm được các từ phủ lên trên, mỗi từ tương ứng với một khái niệm. Trường từ vựng là tập hợp các từ phủ lên trên một trường khái niệm. JTrier chia toàn bộ từ vựng thành các trường cấp cao, trường cấp cao lại chia thành những trường cấp thấp hơn…cho đến những từ rời.
Trong hệ thống đó từ chỉ có vai trò phụ. Áp dụng nguyên tắc đó, JTrier kiên quyết chống lại việc nghiên cứu từ vựng gắn liền với các sự vật riêng rẽ của thế giới vật chất. Ông cho rằng trong ngôn ngữ mỗi từ tồn tại trong một trường “giá trị của nó là do quan hệ với các từ khác trong trường quyết định”[dt 5, 248] ; cũng theo JTrier sự thay đổi ý nghĩa của một từ trong trường kéo theo sự thay đổi ý nghĩa của các từ khác trong trường. J Trier đó tìm ra sự thống nhất giữa đồng đại và lịch đại bằng cách đưa phương pháp cấu trúc vào việc miêu tả sự biến đổi ngữ nghĩa của cùng một trường nghĩa trong những giai đoạn lịch sử khác nhau.
Thực chất việc tập hợp các khái niệm để lập thành các trường từ vựng của J Trier chỉ dựa trên cơ sở lôgíc học không liên quan đến ý nghĩa cuả từ. Quan điểm đó J Trier mặc dù còn có phần võ đoán, sa vào tư tưởng thuần tuý (đồng nhất giữa khái niệm và ý nghĩa) nhưng cũng đó trở thành cơ sở quan trọng cho các nhà ngôn ngữ học sau ông nghiên cứu về trường nghĩa. Với các thành tựu của mình; J Trier “Đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử ngữ nghĩa học ”.Trier, một số nhà nghiên cứu khác như: Weisgerber, JLyons…cũng đó có những quan niệm bổ sung cho lý thuyết của ông. JLyons trong cuốn “ Nhập môn ngôn ngữ học lý thuyết” đã đưa ra được một định 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghĩa về ý nghĩa của từ (sense)có phần khoa học hơn :“ Cái mà ta cho là ý nghĩa của một đơn vị từ vựng là toàn bộ tập hợp các quan hệ ý nghĩa giữa nó với các đơn vị khác trong từ vựng”[23, 672).
Trên cơ sở quan niệm này JLyons đó miêu tả cấu trúc ngữ nghĩa của các từ trong các hệ thống từ vựng bằng các quan hệ đồng nghĩa, đồng âm, trái nghĩa, đa nghĩa. Khác với những quan niệm chia trường dựa vào quan hệ dọc của các nhà nghiên cứu trên. Wporzig- nhà ngôn ngữ học người Đức lại dựa trên quan hệ ngang giữa các tín hiệu ngôn ngữ, để đề xuất lý thuyết về trường nghĩa. Theo ông, khái niệm TN dựa trên cơ sở các mối quan hệ về ngữ nghĩa giữa các cặp từ có quan hệ ngữ đoạn với nhau (quan hệ ngang), ý nghĩa của từ có thể được chỉ ra một cách độc lập trong những trường hợp sử dụng cú pháp khác biệt.
Từ năm 1934, Worzig đó đề nghị lấy liên tưởng làm nguyên tắc phân chia TN. Theo cơ chế liên tưởng, một từ nào đó xuất hiện thế nào cũng gợi đến những từ khác tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ. Ví dụ từ “ưỡn” gợi liên tưởng đến một bộ phận trên cơ thể là ngực, điều đó có nghĩa xuất hiện cùng các tính từ, động từ hành động, là các danh từ chủ thể tương ứng ( nếu không theo quy luật này tức là dùng từ theo lối chuyển nghĩa, chuyển từ vựng từ trường nghĩa gốc sang trường nghĩa mới) chẳng hạn cách diễn đạt của Hàn Mặc Tử “ Dòng nước buồn thiu” ( Đây thôn Vĩ Dạ) hay của Nguyên Ngọc “Rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn che chở cho dân làng” (truyện ngắn “Rừng xà nu”). Với cách nhìn như vậy, Porzig xác định sự sắp xếp những từ có đặc điểm ngữ pháp giống nhau (có khả năng kết hợp giống nhau với các từ khác) tạo thành trường từ vựng- cú pháp.
Dựa trên cơ sở này từ được chia ra thành “ các trường ngữ nghĩa cơ bản” mà hạt nhân của nó bao giờ cũng là động từ hoặc tính từ. Trường theo quan niệm của J.Trier là trường theo quan hệ dọc- trường trực tuyến- trường hệ thống hay trường đẳng lập (Paratactic field).còn trường 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com theo quạn niệm của W.Porzig là trường theo quan hệ ngang- trường tuyến tính- trường tập hợp hay trường từ vựng cú pháp (Syntactic Field ). Lý thuyết trường nghĩa được giới thiệu vào Việt Nam từ những năm 1970 của thế kỷ thứ XX. Đến nay nó vẫn được coi là mô hình nghiên cứu ưu thắng của ngữ nghĩa học cấu trúc và miêu tả.
Trên cơ sở tiếp thu thành tựu của các nhà ngôn ngữ học nước ngoài, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đề cập đến vấn đề TN: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Mai Ngọc Chừ v. Đỗ Hữu Châu trong bài viết “Khái niệm “trường” và việc nghiên cứu hệ thống từ vựng” đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 2 năm 1976 có viết: “Trường từ vựng là một tập hợp các đơn vị từ vựng căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa ” và trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt (NXB GD 1999 ) ông cũng làm rõ thêm khái niệm này “Một tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa, đó là tập hợp những từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa”. Các tác giả của cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”- (Nguyễn Như Ý- cb) cho rằng trường từ vựng hay chính là xêri từ vựng dãy từ vựng trong đó các từ đó có quan hệ với nhau: “Một loạt các từ được liên kết lại nhờ sự đồng nhất của một nét nghĩa còn gọi là xê ri từ vựng, dãy từ vựng”[53 ,327]. Phạm Thị Kim Anh trong luận văn tiến sỹ “ Tín hiệu thẩm mỹ thuộc trường nghĩa cây trong thơ Việt Nam” đã tóm lược: “Trường nghĩa là một nhóm, một tập hợp, một tổ chức…các từ có mối quan hệ nào đó với nhau về nghĩa làm thành một tiểu hệ thống trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ”.