đặt vấn đề “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Đảng và Chính phủ là “đầy tớ nhân dân” chứ không phải “quan nhân dân để đè đầu cưỡi cổ nhân dân”, thì quan niệm về nước và dân đã hoàn toàn đảo lộn so với trước; rất ít lãnh tụ cách mạng đã nói về 9 dân như vậy, điều này càng làm ch tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vượt xa lên phía trước.
Thư gửi thanh niên (1965), Người viết: “Phải luôn luôn nâng cao chí khí cách mạng trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” Luận điểm đó của Hồ Chí Minh vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là định hướng chính trị-đạo đức cho mỗi người Việt Nam không chỉ trong cuộc đấu tranh cách mạnh trước đây, hôm nay, mà còn lâu dài về sau nữa. Và chính Người là một tấm gương sáng về lòng “trung với nước, hiếu với dân” để bất cứ ai trong chúng ta noi theo. Lòng trung, hiếu ở Người là nhất quán, trước sau như một. Ngay từ những ngày đầu ra đi tìm đường cứu nước, hướng tới mục tiêu độc lập cho Tổ quốc, cơm no áo ấm cho đồng bào, Người đã vượt qua bao khó khăn, thử thách.
Sự truy sát ráo riết và de dọa của kẻ thù không làm Người nhụt chí. Trong lao tù của kẻ thù, lòng kiên trung bất khuất của Người, quyết tâm giải phóng dân tộc, cơm no áo ấm cho đồng bào càng được bồi đắp thêm. Khi Tổ quốc được độc lập, Người "tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào", không muốn "dính líu gì với vòng danh lợi" mà "chỉ có một sự ham muốn, ham muôn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn 'độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Lòng trung, hiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện hữu trong từng công việc.
Dù ở đâu, làm gì, Người cũng chi nhằm một mục đích là "phụng sự đồng bào, phụng sự Tổ quốc”. Để rồi trước lúc đi xa, trong Di chúc thiêng liêng, Người tự vấn lòng mình và thấy rằng; "Suốt đời tôi hết lòng hết sửc phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có gì phải hôi hận, chi tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiểu hơn nữa. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là nội dung cốt lõi của đạo đức cách mạng, đó là phẩm chất đạo đức gắn liền với hoạt động hằng ngày của mỗi người.
Vì vậy, Hồ Chí Minh đã đề cập phẩm chất này nhiều nhất, thường xuyên nhất, phản ánh ngay từ cuốn sách Đường cách mệnh đến bản Di chúc. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính chi cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để kợi cho nước cho dân: Với ý nghĩ như vậy, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư cũng là một biểu hiện cụ thể của phẩm chất “trung với nước, hiếu với dân”. 10 Tháng 3-1947, do nhu cầu “kháng chiến, kiến quốc” Bác kêu gọi thi đua xây dựng “đời sống mới là cần, kiệm, liêm, chính” và giải thích rất rõ, dễ hiểu.
Tháng 6-1949, để tiếp tục răn dạy cán bộ về đạo đức, Bác viết tác phẩm “Cần, kiệm, liêm, chính”. Bác coi bốn đức tính “cần, kiệm, liêm, chính” là những đức tính của người cán bộ cách mạng, như trời có bốn mùa, đất có bốn phương. Bác viết: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa thì không thành trời. Thiếu một phương thì không thành đất. Thiếu một đức thì không thành người”.
Sau đó, Bác còn viết bốn bài báo đăng trên báo cứu quốc giải thích rõ nội hàm bốn đức tính này. “Cần tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai”; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng. “Muốn cho chữ Cần có nhiều kết quả hơn thì phải có kế hoạch cho mọi công việc”, nghĩa là làm việc một cách thông minh, sáng tạo, có kế hoạch, khoa học. Theo Bác, con người có đức Cần thì việc gì, dù khó khăn đến mấy, cũng làm được.
Đúng như câu tục ngữ kiến tha lâu cũng đầy tổ, nước chảy mãi đá cũng mòn. Bác lưu ý, kẻ địch của chữ Cần là lười biếng. Bác cho rằng nếu có một người, một địa phương, hoặc một ngành mà lười biếng thì khác nào toàn chuyến xe đang chạy, mà có một bánh trật ra ngoài đường ray. Họ sẽ làm chậm trễ cả một chuyến xe.
Vì vậy, người lười biếng là có tội với đồng bào, với Tổ quốc. Kiệm, tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tiền của của dân, của nước, của bản thân; phải tiết kiệm từ cái lớn đến cái nhỏ, không phô trương hình thức, không xa xỉ, hoang phí. “CẦN và KIỆM phải đi đôi với nhau như hai chân của con người”. Bác giải thích, “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn.
Khi không đáng tiêu xài thì một hạt gạo, một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc cần làm việc lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm. Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm.
Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ”. Hồ Chí Minh yêu cầu “Phải cần kiệm xây dựng nước nhà”. 11 Liêm, nghĩa là “trong sạch, không tham lam,. Chữ LIÊM phải đi đôi với chữ KIỆM.
Cũng như KIỆM phải đi với chữ CẦN. Có KIỆM mới có LIÊM được”. Liêm ở đây là liêm khiết, “luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công, của dân”. “ Liêm là không tham địa vị.
Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá.
Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”. “Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà”. Chính được thể hiện rõ trong ba mối quan hệ: “ ĐỐI VỚI MÌNH - Chớ tự kiêu, tự đại”, “ĐỐI VỚI NGƯỜI - Chớ nịnh hót người trên.
Chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn,. Phải thực hành chữ Bác - Ái”, “ĐỐI VỚI VIỆC: Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà”, “việc thiện thì dù nhỉ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh”.
Nói về chính, Bác viết: “Một người phải cần, kiệm, nhưng còn phải chính mới là người hoàn toàn. Trên quả đất có hàng muôn triệu người sống, số người ấy có thể chia thành hai hạng: Người thiện và người ác. Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc, song, những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc chính và việc tà. Làm việc chính là người thiện.
Làm việc tà là người ác.” Chí công vô tư, là hoàn toàn vì lợi ích chung, không vì tư lợi; là hết sức công bằng, không chút thiên tư, thiên vị, công tâm, luôn đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân, của dân tộc lên trên hết, trước hết; chỉ biết vì Đảng, vì dân tộc, “phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ (tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc). Chí công vô tư là chống chủ nghĩa cá nhân. Người nói “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc” , “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước,. khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”.
Thực hành chí công vô tư là nêu cao chủ nghĩa tập thể, nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân chỉ biết đến mình, muốn “mọi người vì mình”. Nó là giặc nội xâm, còn nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm. Hồ Chí Minh viết: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.
Người cũng phân biệt lợi ích cá nhân và chủ nghĩa cá nhân. Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh so với tư tưởng trước đó 12 Cần: Nếu người xưa chỉ chú trọng Cần trong lao động sản xuất, học tập thì Hồ Chí Minh cho rằng còn phải cần cù, kiên trì trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Trong thời đại chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân người từng nói “kháng chiến có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa” hay với những tư tưởng “đánh chắc tiến chắc”. Kiệm: Trước đây từng có những vua chúa tổ chức yến tiệc linh đình, coi sự phô trương xa hoa là thể hiện sự giàu có của đất nước, không quan trọng dân chúng đã được ấm no chưa hay còn sống trong cảnh lầm than.
Trong tư tưởng truyền thống có thể cho rằng Kiệm là hà tiện, bủn xỉn, hẹp hòi thì trong quan điểm của Hồ Chí Minh, Kiệm là chi tiêu hợp lý để làm lợi cho dân. Việc gì đáng để chi tiêu thì chi tiêu như xây cầu, đắp đê… còn không thì phải biết tiết kiệm để những lúc khó khăn thiếu thốn có cái mà dùng như lúc thiên tai, mất mùa đem của cải lương thực chia cho nhân dân. Liêm: Trong Ngũ thường Nho giáo trước đây gồm nhân, nghĩa, lễ, trí, tín không có đức liêm thì trong quan điểm của Hồ Chí Minh, liêm là phẩm chất không thể thiếu của mọi công dân. Các nhà Nho thời xưa cho rằng “cha mẹ sinh con, trời sinh tính” thì theo quan điểm của Hồ Chí Minh cho rằng con người sinh ra ai cũng trong sạch, tinh khiết, tính người không phải do trời ban mà họ trở thành tốt hay xấu là do giáo dục tạo thành.
Con người được đào tạo giáo dục trong môi trường không có tham ô, tham nhũng thì cũng sẽ trong sạch, người dân hiểu biết quyền hạn của mình không đút lót, mua quyền thì quan ắt sẽ liêm khiết. Chính: Tư tưởng Nho giáo luôn đề cao sự thành thật, ngay thẳng, rèn luyện bản thân làm điều thiện.