Chương 1 TỔNG QUAN 1. Giới thiệu Phương pháp biến đổi là phương pháp có thể giải được một số phương trình vi phân thường và phương trình vi phân riêng phức tạp. Những phương pháp biến đổi thường được sử dụng phổ biến là phương pháp biến đổi Laplace và phương pháp biến đổi Fourier. Biến đổi Wavelet mới được sử dụng trong lĩnh xây dựng, mặc dù nó được sử dụng khá phổ biến trong ngành kỹ thuật điện và ngành truyền thông để mô tả các tính chất và tổng hợp các tín hiệu thời gian.
Các công cụ biến đổi Wavelet được thể hiện trong kỹ thuật kết cấu bằng cách giải các phương trình vi phân thường và vi phân riêng gặp phải trong bài toán động lực. Những bài toán động lực trong kết cấu công trình có hai loại: Loại thứ nhất sử dụng tần số thấp, được gọi là bài toán động lực học; Loại thứ hai là sử dụng tần số cao và được gọi là bài toán truyền sóng. Hầu hết các bài toán trong kết cấu công trình đều thuộc loại một , trong đó ứng xử của toàn bộ kết cấu chỉ sử dụng vài mode dao động đầu tiên. Truyền sóng là một hiện tượng đa phương thức sử dụng mode dao động với tần số cao.
Các công cụ phân tích thông thường như phương pháp phần tử hữu hạn không thể xử lý những vấn đề này do hạn chế về cách mô hình và tính toán phức tạp. Lựa chọn duy nhất cho vấn đề này là dựa trên phương pháp biến đổi. Từ trước đến nay có nhiều phương pháp phân tích tín hiệu. Được biết đến nhiều nhất là phân tích Fourier, trên cơ sở phân tích một tín hiệu thành tổng của các hàm sin với các tần số khác nhau.
Nói cách khác, phân tích Fourier là kỹ thuật biến đổi tín hiệu từ miền thời gian sang miền tần số. Với nhiều tín hiệu, phân tích Fourier rất có ích vì nội dung tần số của tín hiệu là rất quan trọng. Mặc dù có nhiều hiệu quả nhưng phép biến đổi Fourier (như là phân tích các tín hiệu tuần hoàn, thuận lợi cho các phép chập tín hiệu) vẫn có những hạn chế. Khi biến đổi sang miền tần số, thông tin thời gian đã bị mất.
Nếu một thuộc tính -2- tín hiệu không thay đổi nhiều theo thời gian, nó được gọi là tín hiệu tĩnh, thì các nhược điểm trên không có ảnh hưởng quan trọng. Tuy nhiên, nhiều tín hiệu có chứa các thông số động: trôi, nghiêng, biến đổi đột ngột, khởi đầu và kết thúc của các sự kiện. Những đặc tính này thường là phần quan trọng nhất của tín hiệu, và phân tích Fourier không thích hợp để phát hiện chúng. Phép biến đổi Fourier thời gian ngắn (short term Fourier transform- STFT): Các tín hiệu thường gặp trong thực tế thường là tín hiệu không dừng (ví dụ tín hiệu nhạc, tín hiệu nhiễu, …) thì phân tích Fourier hoàn toàn không mang lại các thông tin hữu ích.Biến đổi Fourier không phân tích được biến thiên tần số trong từng vùng theo thời gian của tín hiệu.
Nói cách khác nó không có tính cục bộ về thời gian. Do đó cần cục bộ hóa biến đổi Fourier để có thể phân tích các tín hiệu không tĩnh.Để khắc phục những hạn chế của biến đổi Fourier, phép biến đổi Fourier thời gian ngắn được đề xuất. Biến đổi này còn được gọi là biến đổi Fourier cửa sổ hay biến đổi Gabor. Khuyết điểm chính của STFT là khi kích thước cửa sổ được chọn thì tất cả các tần số được phân tích với cùng độ phân giải thời gian và tần số.
Do vậy khi phân tích tín hiệu gồm nhiều thành phần tần số hoặc thời gian, STFT chỉ có khả năng cho độ phân giải tương đối về tần số với các tín hiệu có thời gian tồn tại ngắn. Để đáp ứng được yêu cầu độ phân giải ổn định với các tín hiệu có nhiều thành phần thời gian và tần số, ta cần dùng một phương pháp biến đổi sao cho độ phân giải thời gian và tần số có thể thay đổi một cách thích nghi với đặc tính của tín hiệu trên mặt phẳng thời gian và tần số. Điều này dẫn đến sự ra đời của một phép biến đổi mới đó là phép biến đổi wavelet.Phân tích Wavelet cho phép sử dụng các khoảng thời gian dài khi ta cần thông tin tần số thấp chính xác hơn, và miền ngắn hơn đối với thông tin tần số cao. Phương pháp phần tử hữu hạn phổ (Spectral finite element method - SFEM) là một trong những phương pháp biến đổi như vậy, đó có thể là một thay thế khả thi để giải quyết các bài toán liên quan đến kích thích với tần số cao.
Phương pháp SFEM -3- dựa trên biến đổi Fourier là phương pháp khá phổ biến và đã được thành lập. Tuy nhiên, nó có những hạn chế trong việc xử lý các kết cấu hữu hạn và các điều kiện biên hay các điều kiện ban đầu khác không, và do đó áp dụng phương pháp SFEM dựa trên biến đổi Fourier để giải các bài toán liên quan đến kích thích với tần số cao bị hạn chế. Biến đổi Wavelet là rất hữu dụng trong việc giải phương trình vi phân thường bằng cách mô phỏng kết cấu như một hệ rời rạc liên quan đến vấn đề kết cấu động và sử dụng biến đổi Wavelet để giải những vấn đề liên quan đến phương trình vi phân riêng. Wavelet được sử dụng hiệu quả trong việc xử lý các tín hiệu và giải các phương trình vi phân.
Biến đổi Wavelet đã được ứng dụng để giải và phân tích các bài toán liên quan trong cơ học.Việc sử dụng wavlet trong cơ học có thể được ứng dụng như phân tích các ứng xử cơ học để khai thác các thông số mô hình, khử nhiễu, các giải pháp thiệt hại vv… Do đó có thể giải các bài toán kết cấu động lực và các bài toán truyền sóng bằng cách sử dụng phương pháp biến đổi wavet. Kết cấu động lực sử dụng với tần số thấp hơn với độ lớn khoảng một vài trăm Hertz, hoặc chỉ có vài mode dao động đầu tiên và liên quan đến các nghiên cứu về trạng thái ổn định. Còn đối với bài toán truyền sóng là sử dụng với tần số kích thích cao, khoảng tầm Kilohertz. Tình hình luận văn Ở Việt Nam những năm vừa qua đã có nhiều nhà khoa học với các đề tài nghiên cứu bài toán chẩn đoán vết nứt.
Một số nghiên cứu thành công trong lĩnh vực này có thể kể đến như: - Chẩn đoán kỹ thuật, bài toán, phương pháp và ứng dụng của tác giả Nguyễn Tiến Khiêm- Tuyển tập công trình Hội nghị khoa học toàn quốc Cơ học kỹ thuật 2001, trang 162-172 [17]. - Nghiên cứu ảnh hưởng của vết nứt đến đặc trưng động lực học của kết cấu tấm mỏng chịu uốn, khảo sát ảnh hưởng của vị trí và chiều dài vết nứt đến các tần số dao động riêng của tấm ở trạng thái chịu uốn bằng phương pháp FEM kết hợp với phần tử đẳng tham số Barsoum. Luận văn Thạc sĩ của Vương Quang Giang [34]. -4- - Phân tích độ nhạy cảm cho độ võng của dầm có vết nứt bằng phương pháp biến đổi Wavelet.
Ở bài báo này, tác giả đã ứng dụng phương pháp FEM để thiết lập mô hình phần tử dầm có và không có vết nứt. Tác giả Nguyễn Thị Hiền Lương và Lý Vĩnh Phan (2007), [18] - Phân tích độ nhạy của độ võng tấm có vết nứt bằng phương pháp biến đổi Wavelet. phân tích độ nhạy cảm của độ võng tấm có vết nứt bằng phương pháp biến đổi Wavelet. Ở bài báo này, tác giả đã phân tích tính nhạy cảm của độ võng tấm mỏng chịu uốn có vết nứt sau khi dùng kỹ thuật biến đổi Wavelet.
Đặc biệt, sự ảnh hưởng của chiều dài vết nứt đã được nghiên cứu. - Phân tích độ nhạy chuyển vị tấm có vết nứt bằng phương pháp biến đổi Wavelet của tác giả Trần Duy Phương (2011)[42]. Công trình nghiên cứu trên thế giới gần đây đã đề cập đến việc giải bài toán truyền sóng và chẩn đoán hư hại kết cấu như: - Mô hình WSFEM cho vết nứt ngang để chẩn đoán kết cấu tấm composite của tác giả Dulip Samaratunga et al. - Lý thuyết dầm chịu uốn cho bài toán dao động và vấn đề truyền sóng trong dầm 1 D, 2D, 3D của tác giả Azak, Mkrawczk [21].
- So sánh vấn đề dao động và truyền sóng để xác định thiệt hại của dầm Eurler- Becnoulli: Đối với dao động thì kết cấu hư hại thì độ cứng giảm dẫn đến tần số giảm; Đối với sóng thì thiệt hại xác định bằng sự lan truyền rung khi qua môi trường không đồng nhất của tác giả Ra Tenenbaum, LT Stutz [22]. - SEM dựa trên miền tần số để phân tích ứng xử dầm pizoelectric tranducer composite sử dụng Fourier rời rạc và các kết quả được so sánh với mô phỏng Ansys của tác giả Vsiklee [23]. - Xác suất thiệt hại trong dầm sử dụng truyền sóng bằng cách tối ưu hóa hàm mật độ xác suất của các thông số thiệt hại. Sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn phổ để mô hình truyền sóng và sự tán xạ tại vị trí thiệt hại.
Bài báo của tác giả C.Veidt et al. -5- - Dùng phương pháp phần tử hữu hạn phổ để tính toán sự truyền sóng trong dầm composite có lỗ rỗng. Qua đó xác định độ xốp và mức độ hư hại. Độ rỗng và vận tốc của các điểm trên dầm được khảo sát và so sánh với kết quả thí nghiệm.
Bài báo của tác giả V. - Khảo sát sóng tới và sóng phản xạ trong dầm tách lớp có xét đến sự đóng mở của các vị trí tách lớp. Phần năng lượng phản xạ và truyền năng lượng phụ thuộc vào vị trí sóng tới cũng như vị trí phân lớp. Bài báo của tác giả Wan Chun Yuan, Li Zhou [26].
- Wavelet base element được sử dụng để tính nội lực và phân tích ổn định kết cấu. Bài toán dầm, tấm. Bài báo của tác giả Yongteng Zhong [27]. - Sử dụng Wavelet liên tục để phát hiện vết nứt của dầm tựa đơn a/h <5%.
Phương pháp này cho kết quả tốt. Bài báo của tác giả Shuncong Zong [28]. - Sử dụng biến đổi Wavelet để xác định thiệt hại của khung 5 tầng 2 nhịp. Bài báo của tác giả Guirong Yan [29].
- Sử dụng Wavelet Haar và artificial neural net works (ANNs) để xác định vị trí tách lớp của dầm composite. Cách tiếp cận này đòi hỏi ít tính toán và độ chính xác cao. Bài báo của tác giả H. - Độ hội tụ và chính xác của Wavelet Daubechies tốt hơn phương pháp phần tử hữu hạn thường áp dụng cho bài toán dầm và tấm.
Bài báo của tác giả Liliam Alvarez Diaz, Mavia T Martin [31].