Chương 1: Lý luận chung về phân tích tính khả thi của dự án đầu tư xây dựng. Chương 2: Thuyết minh chung về Dự án đầu tư xây dựng Nhà máy điện khí Miền Trung I và II. Chương 3: Một số hàm ý phân tích tính khả thi của Dự án đầu tư xây dựng Nhà máy điện khí Miền Trung I và II. 7 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÍNH KHẢ THI CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG Tổng quan về đầu tư Khái niệm về đầu tư Đầu tư là một hoạt động kinh tế có vai trò rất quan trọng không chỉ với nhà đầu tư mà cả đối với toàn bộ nền kinh tế.
Nhờ có hoạt động đầu tư từ các chủ thể trong nền kinh tế, trên các lĩnh vực khác nhau trong đời sống kinh tế - xã hội mà của cải vật chất được tạo ra nhiều hơn, xã hội ngày càng phát triển hơn. Hoạt động đầu tư có mục tiêu tạo ra thu nhập và làm gia tăng giá trị theo thời gian. Nói chung, bất kỳ hành động nào được thực hiện với hy vọng làm tăng doanh thu trong tương lai so với những gì đã bỏ ra ban đầu có thể được coi là đầu tư. Đầu tư chính là sự hy sinh giá trị chắc chắn ở thời điểm hiện tại để đổi lấy (khả năng không chắc chắn) giá trị trong tương lai.
Đầu tư luôn tiềm ẩn một mức độ rủi ro nhất định, một khoản đầu tư có thể không tạo ra bất kỳ thu nhập nào hoặc bị mất giá trị theo thời gian. Khi đề cập đến khía cạnh rủi ro bất trắc, A.Samuelson đã quan niệm rằng “Đầu tư là đánh bạc với tương lai”, hay khi đề cập đến vai trò của tiết kiệm, các tác giả của “Kinh tế học của sự phát triển” lại cho rằng: “Đầu tư là một sự hy sinh tất cả các nguồn lực của cải của ngày hôm nay để hy vọng đạt được những lợi ích lớn hơn trong tương lai”. Theo Adam Smith thì: “Đầu tư là một hoạt động nhằm gia tăng tích tụ tự bản của các cá nhân, công ty và xã hội với mục đích cải thiện và nâng cao mức sống…”. Có thể thấy có rất nhiều quan niệm khác nhau về đầu tư, nhưng xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư, có thể hiểu đầu tư như sau: Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó.
Nguồn lực nói đến có thể là tiền, tài nguyên, công nghệ, nhà xưởng, sức lao động, trí tuệ.Và các kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, máy móc.), tài sản trí tuệ (trình độ chuyên môn, trình độ quản lý, 8 năng suất lao động, kỹ năng tay nghề…) trong nền sản xuất xã hội. Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó. Từ đây, đầu tư được định nghĩa: “Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội.” (Bùi Xuân Phong 2006, tr.03) Dưới góc độ pháp lý, thì đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản theo nhiều hình thức và cách thức do pháp luật quy định để thực hiện hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận hay lợi ích kinh tế, xã hội khác. Theo Khoản 8 Điều 3 của Luật đầu tư (số 61/2020/QH14), ngày 17/06/2020 thì: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh”.
Phân loại đầu tư Căn cứ vào các kết quả của hoạt động đầu tư, bản chất và lợi ích do việc đầu tư đem lại, việc phân loại các khoản đầu tư phù hợp với những đặc điểm phân loại sau đây [2, tr.04]: Theo chức năng quản lý vốn Đầu tư trực tiếp: là hình thức đầu tư trong đó chủ đầu tư trực tiếp tham gia quản lý vốn đã bỏ ra. Đầu tư trực tiếp có thể là đầu tư trong nước, đầu tư của nước ngoài tại Việt Nam. Đầu tư gián tiếp: là hình thức đầu tư trong đó chủ đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý vốn đã bỏ ra. Loại đầu tư này còn được gọi là đầu tư tài chính như cổ phiếu, chứng khoán, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác…thông qua các định chế tài chính trung gian.
Theo nguồn vốn đầu tư Đầu tư trong nước: là việc các tổ chức, cá nhân Việt Nam, người Việt Nam ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở Việt Nam bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh tại Việt Nam. 9 Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào khác để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Đầu tư ra nước ngoài: là loại đầu tư của các tổ chức hoặc cá nhân của nước này tại nước khác. Theo tính chất đầu tư Đầu tư mới: là hoạt động đầu tư nhằm xây dựng mới các công trình, nhà máy, thành lập mới các công ty, mở các cửa hàng mới, dịch vụ mới.
Đầu tư chiều sâu: là hoạt động đầu tư nhằm khôi phục, cải tạo, nâng cấp, trang bị lại, đồng bộ hóa, hiện đại hóa, mở rộng các đối tượng hiện có. Là phương thức đầu tư trong đó chủ đầu tư trực tiếp tham gia quản trị vốn đã bỏ ra, đòi hỏi ít vốn, thời gian thu hồi vốn nhanh. Đầu tư tận dụng nhân lực sản xuất - dịch vụ: là hoạt động đầu tư nhằm sử dụng 100% công suất thiết kế của năng lực sản xuất đã có. Theo tính chất sử dụng vốn đầu tư Đầu tư phát triển: là hình thức đầu tư trực tiếp, trong đó việc bỏ vốn nhằm gia tăng giá trị tài sản.
Đây là phương thức căn bản để tái sản xuất mở rộng. Đầu tư chuyển dịch: là hình thức đầu tư trực tiếp, trong đó việc bỏ vốn nhằm dịch chuyển quyền sở hữu giá trị tài sản (mua cổ phiếu, trái phiếu…). Theo thời gian đầu tư Đầu tư ngắn hạn: là một hoạt động sử dụng vốn nhằm thu được lợi nhuận trong một khoảng thời gian ngắn, thường dưới một năm. Đầu tư trung và dài hạn: là một hoạt động sử dụng vốn nhằm mục đích thu được những lợi ích kinh tế - xã hội lâu dài trong tương lai, thường trên một năm.
Theo ngành đầu tư Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: là hoạt động đầu tư nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật (giao thông vận tải, điện nước…) và hạ tầng xã hội (trường 10 học, bệnh viện, cơ sở thông tin văn hóa). Đầu tư phát triển công nghiệp: là hoạt động đầu tư nhằm phát triển các công trình công nghiệp. Đầu tư phát triển nông nghiệp: là hoạt động đầu tư nhằm phát triển các công trình nông nghiệp. Đầu tư phát triển dịch vụ: là hoạt động đầu tư nhằm phát triển các công trình dịch vụ (thương mại, du lịch…).
Tổng quan về Dự án đầu tư xây dựng Khái niệm về Dự án đầu tư xây dựng Để một hoạt động đầu tư đạt được hiệu quả như mong muốn, cần phải tiến hành thực hiện theo dự án, nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện ràng buộc về mặt phạm vi, thời gian và ngân sách. Dự án là một tập hợp các hoạt động liên quan với nhau được kế hoạch hóa nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định qua việc sử dụng các nguồn lực đã xác định [9]. Từ việc hiểu về dự án ta sẽ phần nào hiểu được các quan niệm về dự án đầu tư. Có thể xem xét từ nhiều góc độ khác nhau: Xét về mặt hình thức thì dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu phản ánh trung thực kết quả nghiên cứu cụ thể toàn bộ các vấn đề: Thị trường, kỹ thuật, tài chính, kinh tế - xã hội…, theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Xét về mặt nội dung thì dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định. Xét trên góc độ quản lý thì dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trong một thời gian dài. Theo quy định tại Khoản 4 Điều 3, Luật Đầu tư (số 61/2020/QH14), có hiệu 11 lực thi hành từ ngày 01/01/2021 thì: “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”. Để tiến hành đầu tư nhất thiết phải có dự án đầu tư.
Do đó, dự án đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhà đầu tư, Nhà nước và các bên hữu quan. Đầu tư vào mỗi lĩnh vực khác nhau sẽ có những cách thức tiến hành, hoạt động khác nhau. Cụ thể, trong đề tài Luận văn nghiên cứu này, để phác thảo nên một dự án đầu tư trong lĩnh vực xây dựng Nhà máy điện khí cần phải hiểu thêm khái niệm về dự án đầu tư xây dựng. Theo Khoản 15 Điều 3, Luật Xây dựng (số 62/2020/QH14), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021 thì: “Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định.
Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng”.