CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tầm quan trọng của việc phân tích tài chính trong NHTM Hoạt động NH với đặc trưng kinh doanh tiền tệ là một lĩnh vực nhạy cảm và có nhiều rủi ro. Chính vì thế, để có thể tồn tại và phát triển, các NHTM cần thiết phải có một chiến lược kinh doanh đúng đắn kết hợp với một sự quản lý linh hoạt và hiệu quả. Để đạt được điều đó, các NH rất cần các thông tin đã được xử lý.
Hoạt động phân tích tài chính giúp các nhà quản lý nắm bắt được các thông tin cần thiết cho quá trình điều hành của mình. Như vậy, có thể thấy phân tích tài chính là một yêu cầu tất yếu đối với mọi NHTM muốn tồn tại, cạnh tranh và phát triển trong một môi trường kinh doanh khắc nghiệt có xu hướng mở cửa và hội nhập. Không có phân tích tài chính, các NHTM không thể biết tình trạng tài chính của mình như thế nào, hoạt động của mình có hiệu quả hay không, vì thế những sai lầm có thể gặp phải trong quá trình kinh doanh mà bản thân NH không thể tự nhận biết được sẽ giống như những kẻ thù giấu mặt nhanh chóng đưa NH tới chỗ tụt hậu hoặc phá sản. Phân tích tài chính NHTM rất có ý nghĩa đối với các NHTM: - Thông qua phân tích tài chính, các nhà quản lý có sự nhìn nhận đúng đắn về khả năng, sức mạnh cũng như những hạn chế của NH, từ đó xác định đúng mục tiêu và các biện pháp thúc đẩy kinh doanh, xây dựng chiến lược kinh doanh hiệu quả.
- Phân tích tài chính là cơ sở để NH phát hiện, đo lường các rủi ro, từ đó có biện pháp kịp thời phòng ngừa các rủi ro đó. - Phân tích tài chính giúp các nhà quản trị trong quá trình đánh giá, đo lường mức độ thực hiện cũng như tính đúng đắn của chiến lược kinh doanh, để từ đó có các điều chỉnh kịp thời giúp NH không đi chệch hướng. - Phân tích tài chính của NH còn là điều kiện cần thiết cho các nhà quản lý 4 có cơ sở đưa ra các biện pháp thích hợp trong việc sử dụng nguồn vốn, sử dụng nguồn nhân lực góp phần hạn chế rủi ro và nâng cao lợi nhuận cho NH. Nội dung của phân tích tài chính Ngân hàng thương mại.
Nội dung phân tích tình hình tài chính Ngân hàng thương mại. NHTM cũng là một doanh nghiệp, một doanh nghiệp cung ứng dịch vụ đặc thù. Do đó các nội dung phân tích tình hình tài chính NHTM cũng bao gồm các nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, tuy nhiên có một số đặc thù. Khi phân tích tình hình tài chính NHTM, các nhà phân tích thường đánh giá trên các nội dung sau:[6,10] Đánh giá tình hình tài sản, nguồn vốn: Đánh giá tình hình tài sản, nguồn vốn cho biết quy mô của tổng tài sản và nguồn vốn của NH cũng như tỷ trọng của từng loại nguồn vốn trong tổng nguồn vốn, mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn.
Từ đó các nhà phân tích thấy được bức tranh toàn cảnh tổng quát về tình hình phân bổ tài sản cũng như nguồn vốn của NH, đánh giá khái quát về tính hợp lý của việc phân bổ và cấu trúc tài sản của NH. Đánh giá tình hình vốn tự có: NH thực hiện nghiệp vụ đi vay để cho vay và các hoạt động khác. Do đó chức năng quan trọng của vốn tự có là để bù đắp những tổn thất phát sinh từ nghiệp vụ tín dụng, đầu tư và các rủi ro khác. Cơ cấu vốn tự có thích hợp là một nhân tố hết sức quan trọng trong công việc đảm bảo an toàn và khuyến khích hoạt động kinh doanh, làm tăng sự tín nhiệm trong công chúng, tăng sức chịu đựng của NH trước những thay đổi, biến động theo chiều hướng xấu của tình hình kinh tế cũng như hoạt động NH.
Việc xác định quy mô vốn tự có hợp lý cho một NH cần xem xét trong mối tương quan với các rủi ro NH. Bởi vậy, nội dung chủ yếu của việc đánh giá tình hình vốn tự có là xem xét mức vốn tự có của NH có khả năng chịu đựng được các rủi ro trong kinh doanh hay không. Đánh giá tình hình huy động vốn: Điểm khác nhau cơ bản trong nguồn vốn của NHTM và các doanh nghiệp phi tài chính là: NHTM chủ yếu kinh doanh từ nguồn vốn huy động từ các thành 5 phần kinh tế, còn các doanh nghiệp khác hoạt động bằng vốn tự có của mình là chủ yếu. Vì vậy, nghiên cứu tình hình huy động vốn là điều được quan tâm đầu tiên khi xem xét nguồn vốn của NHTM.
Để đánh giá tình hình huy động vốn, các nhà phân tích thường xem xét trên các nội dung về quy mô và tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn, cơ cấu nguồn vốn, chất lượng nguồn vốn và chi phí huy động vốn. Đánh giá tình hình dự trữ và khả năng thanh toán: Vốn kinh doanh của NHTM chủ yếu là huy động từ các thành phần kinh tế, trong đó chiếm phần lớn là tiền gửi của khách hàng. Các khoản tiền gửi này có thể bị rút ra hàng loạt và vào bất cứ lúc nào, kể cả đó là các khoản tiền gửi có kỳ hạn. Do đó, NHTM phải có các khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán cho những người gửi tiền khi họ có yêu cầu rút tiền.
Dự trữ của NHTM chia làm hai phần chính: dự trữ bắt buộc và dự trữ thanh toán. Đánh giá tình hình dự trữ bắt buộc để xem NHTM có chấp hành tốt quy định của NHNN hay không. Còn dự trữ thanh toán thường được xem xét trong nội dung đánh giá khả năng thanh toán của NH. Khả năng thanh toán là khả năng NH có thể hoàn trả các khoản nợ bằng tiền và các tài sản có thể chuyển hóa nhanh thành tiền.
Việc thiếu khả năng thanh toán có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của NHTM. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến lòng tin của khách hàng đối với NH, từ đó làm giảm lợi nhuận của NH và thậm chí có thể buộc NH phải đóng cửa. Khả năng thanh toán của NH thường được các nhà phân tích xem xét trên hai nội dung: đánh giá khả năng thanh khoản – khả năng đáp ứng nhu cầu tiền mặt ở mọi thời điểm và đánh giá khả năng thanh toán cuối cùng – khả năng chịu đựng được các tổn thất của vốn tự có. Đánh giá tình hình tín dụng và đầu tư Tín dụng là hoạt động truyền thống và chủ yếu của NHTM mang lại nguồn thu khá lớn trong tổng thu nghiệp vụ NH.
Tuy nhiên hoạt động tín dụng lại tiềm ẩn nhiều rủi ro và phức tạp nhất, nó liên quan chặt chẽ tới các lĩnh vực của nền kinh tế từ sản xuất đến tiêu dùng. Do vậy đánh giá tình hình tín dụng là một trong những nội dung được quan tâm trong phân tích tài chính NHTM. Việc đánh giá tình hình 6 tín dụng thường được các nhà phân tích xem xét trên các nội dung: quy mô, cơ cấu tín dụng, chất lượng tín dụng, khả năng bù đắp được các khoản cho vay bị mất cũng như việc thực hiện các chỉ tiêu nhằm đảm bảo an toàn trong kinh doanh. Bên cạnh hoạt động tín dụng, một hoạt động cũng mang lại nguồn thu cho NH đó là hoạt động đầu tư.
NH có thể đầu tư vào các lĩnh vực như mua bán giấy tờ có giá, đầu tư góp vốn liên doanh, liên kết, mua cổ phần của các công ty. Hoạt động này mang lại lợi nhuận đồng thời cũng chứa đựng nhiều rủi ro. Do đó các nhà phân tích thường đánh giá tình hình đầu tư của NH qua các nội dung: quy mô, cơ cấu các khoản đầu tư, chất lượng của từng khoản đầu tư, khả năng sinh lời… Đánh giá tình hình thực hiện chỉ tiêu lợi nhuận và khả năng sinh lời: Lợi nhuận và mức độ sinh lời cao tạo khả năng tăng thu nhập cho người lao động, tăng tích lũy, từ đó tạo điều kiện để cải tiến công nghệ cũng như mở rộng quy mô hoạt động cả về chiều rộng và chiều sâu, góp phần nâng cao uy tín và tăng sức cạnh tranh của NH trên thị trường. Do đó đánh giá tình hình thực hiên chỉ tiêu lợi nhuận là nội dung quan tâm hàng đầu của các chủ sở hữu và các nhà quản lý NH.
Khi xem xét nội dung này, các nhà quản lý thường quan tâm đến việc đánh giá quy mô và tốc độ tăng lợi nhuận, đánh giá mức độ ổn định của lợi nhuận và xem xét lợi nhuận trong mối quan hệ với thu nhập, tài sản và nguồn vốn. Như vậy, khác với phân tích tài chính ở các doanh nghiệp thông thường, phân tích tình hình tài chính NHTM có một số đặc thù như sau: - Để hoạt động kinh doanh các ngân hàng phải có số vốn điều lệ ban đầu phù hợp với quy định của luật pháp. Tuy nhiên, số vốn tự có này không thể là toàn bộ số vốn mà ngân hàng cần để tiến hành các hoạt động kinh doanh do số lượng vốn này quá nhỏ bé. Trong cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng khoản mục vốn huy động là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn nhất và là nguồn vốn chính để các NHTM tiến hành các hoạt động kinh doanh thực tiễn của mình.
Do vây, khi đánh giá về tình hình huy động vốn 2 nội dung luôn luôn dược đề cập để phân tích là : phân tích vốn tự có và phân tích vốn huy động. 7 - Huy động được một lượng vốn nhàn rỗi khổng lồ từ nền kinh tế, các NHTM sử dụng số vốn đó vào trong họat động kinh doanh của mình. Một phần của số vốn dùng để đáp ứng yêu cầu dự trữ gồm dự trữ bắt buộc và dự trữ đảm bảo khả năng thanh toán, phần còn lại các ngân hàng sử dụng để cấp tín dụng cho các chủ thể cần vốn trong nền kinh tế và một phần dùng để tiến hành hoạt động đầu tư. Vì vậy nội dung phân tích chính trong phân tích là phân tích tình hình dự trữ và cho vay của NHTM.
- Đối với các khoản nợ quá hạn các ngân hàng phải trích lập dự phòng theo tỷ lệ quy định dựa trên thời gian quá hạn của khoản nợ. Nếu dự phòng đã trích không đủ để bù đắp thì ngân hàng phải sử dụng lợi nhuận thu được trong kỳ hoạt động của mình để trang trải.