CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Giới thiệu về Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính quan trọng của nền kinh tế. Ngân hàng là người cho vay chủ yếu đối với hàng triệu hộ tiêu dùng bao gồm các cá nhân và hộ gia đình cùng với đó là hầu hết các cơ quan Chính quyền địa phương (Tỉnh, Thành phố,…). Đặc biệt sự hỗ trợ về vốn của Ngân hàng thương mại cho các doanh nghiệp từ nhỏ và vừa đến các doanh nghiệp lớn đều vô cùng cần thiết.
Chúng ta có thể thấy Ngân hàng thương mại là một trợ thủ tài chính quan trọng cho các doanh nghiệp tại Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Khái niệm Ngân hàng thương mại Tại khoản 3 Điều 4 Luật số: 47/2010/QH12, Luật Các tổ chức tín dụng 2010 khái niệm Ngân hàng thương mại được định nghĩa là: “Loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Dựa vào khái niệm trên và các học thuyết kinh tế khi nghiên cứu về Ngân hàng thương mại của các các tổ chức nghiên cứu của Việt Nam và thế giới chúng ta có thể rút ra kết luận: Chúng ta có thể nói Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh doanh lĩnh vực tiền tệ tín dụng, trong đó chức năng chủ yếu là trung gian tài chính, tín dụng giữa các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân. Ngân hàng thương mại hoạt động theo mô hình một doanh nghiệp nên mục tiêu lợi nhuận cũng được đặt lên hàng đầu.
Phân loại Ngân hàng thương mại Những tiêu chí phân loại Ngân hàng thương mại: Căn cứ vào hình thức sở hữu: Ngân hàng thuộc sở hữu tư nhân: là ngân hàng do chính cá nhân thành lập bằng vốn của chính bản thân họ. Ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước: là ngân hàng có sử dụng vốn nhà nước cấp. Ví dụ: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) Ngân hàng cổ phần: là ngân hàng được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần. Trong đó, các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế xã hội và các cá nhân cùng góp vốn kinh doanh.
4 Ví dụ: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam (VietinBank), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Á (DongA Bank), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Đông (OCB), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB Bank). Ngân hàng liên doanh: là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của hai hay nhiều bên. Tại Việt Nam loại hình này thường được thực hiện giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài để tận dụng ưu thế của nhau. Ví dụ: Ngân hàng Liên doanh Việt – Nga (VRB), Ngân hàng TNHH Indovina (IVB), Ngân hàng Liên doanh Việt Thái (VSB).
Ngân hàng thuộc sở hữu nước ngoài: là ngân hàng có số vốn 100% từ nguồn vốn nước ngoài, được thành lập dựa trên những quy định của pháp luật Việt Nam, có đầy đủ các quyền như một ngân hàng cung cấp các dịch vụ cho thị trường Việt Nam, thời gian hoạt động không quá 99 năm. Ví dụ: Ngân hàng TNHH Một Thành Viên HSBC Việt Nam (HSBC), Ngân hàng TNHH Một Thành Viên Hong Leong Việt Nam (HLBVN), Ngân hàng TNHH Một Thành Viên Standard Chartered Việt Nam. Căn cứ vào chiến lược kinh doanh: Ngân hàng thương mại bán buôn: là ngân hàng chỉ giao dịch và cung ứng cho các đối tượng khách hàng là tập đoàn, công ty chứ không giao dịch với khách hàng cá nhân. Ngân hàng thương mại bán lẻ: là loại ngân hàng chuyên giao dịch và cung ứng các dịch vụ cho khách hàng cá nhân.
Căn cứ vào tính chất hoạt động: Ngân hàng chuyên doanh: là loại ngân hàng chỉ hoạt động chuyên về một lĩnh vực nhất định như nông nghiệp, xuất nhập khẩu, đầu tư… Ngân hàng kinh doanh tổng hợp: là loại ngân hàng hoạt động ở tất cả các lĩnh vực kinh tế và thực hiện gần như tất cả các nghiệp vụ phát sinh mà một ngân hàng được phép thực hiện theo quy định của pháp luật. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại a. Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: Tài khoản tiền gửi: Ngân hàng mở tài khoản tiền gửi, tài khoản khác tại Sở giao dịch và các chi nhánh của Ngân hàng Nhà nước để thực hiện giao dịch thanh toán và duy trì trên tài khoản tiền gửi Sở giao dịch, chi nhánh của các Ngân hàng mở tại chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố nơi Ngân hàng đặt Sở giao dịch, chi nhánh. Ngân hàng mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật.
Các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: - Cung ứng các phương tiện thanh toán - Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng b. Huy động vốn: Ngân hàng thương mại huy động vốn dưới các hình thức: - Nhận tiền gửi của các tổ chức, các nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ và vàng. - Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, các nhân trong nước và ngoài nước trong khi được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận. - Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ chức tín dụng nước ngoài.
- Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước theo hình thức tái cấp vốn. - Cách hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Hoạt động tín dụng: Cấp tín dụng bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ và vàng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Cho các tổ chức, các nhân, hộ gia đình vay vốn dưới các hình thức: cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn.
Cho vay theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ trong trường hợp cần thiết. Ngân hàng có quyền yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ, phương án phục vụ đời sống khả thi, khả năng tài chính của mình và của người bảo lãnh trước 6 khi quyết định cho vay. Kiểm tra giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng, có quyền chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ trước khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai, vi phạm hợp đồng tín dụng. Được quyền từ chối cho vay đối với khách hàng không đủ điều kiện vay vốn, các dự án, khoản vay không đem lại hiệu quả kinh tế, không có khả năng thu hồi vốn, không phù hợp với quyết định của pháp luật.
Bảo lãnh: - Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác cho các tổ chức, cá nhân theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. - Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác mà người nhận bảo lãnh là tổ chức, cá nhân nước ngoài. - Ngân hàng có quyền yêu cầu người được bảo lãnh thực hiện đúng cam kết của mình với Ngân hàng, có bảo đảm cho việc bảo lãnh của ngân hàng, cung cấp đầy đủ chính xác các thông tin và tài liệu liên quan đến việc bảo lãnh kiểm soát mọi hoạt động liên quan đến nghĩa vụ bảo lãnh, từ chối bảo lãnh đối với khách hàng không có uy tín. Chiết khấu thương phiếu, kỳ phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác: - Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu, kỳ phiếu và các giấy tờ ngắn hạn khác với tổ chức cá nhân.
- Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác. Cho thuê tài chính - Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ cho thuê tài chính qua Công ty cho thuê tài chính trực thuộc ngân hàng chủ quản. Công ty cho thuê tài chính tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật và Điều lệ của công ty. Chức năng của Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại có 3 chức năng chính: Chứng năng làm trung gian tín dụng: là cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn, ngân hàng thương mại huy động các nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi từ các chủ thể kinh tế để hình thành lên nguồn vốn cho vay và sử dụng vốn này để đáp ứng nhu cầu vay vốn của các chủ thể thiếu vốn (cần bổ sung vốn, gửi vào tài khoản dự trữ bắt buộc hoặc tài khoản thanh toán tại Ngân hàng trung ương, Ngân hàng thương mại,…) mà ở đây chủ yếu là cho vay ngắn hạn.
Với chức năng này Ngân hàng thương mại vừa đi vay, vừa cho vay. Chức năng trung gian tín dụng xuất phát từ yêu cầu cần 7 khắc phục khiếm khuyết của thị trường tài chính (cung và cầu về vốn không khớp nhau về thời gian và số lượng đã ảnh hưởng lớn tới tính tuần hoàn liên tục của quá trình tái sản xuất). Chức năng trung gian tín dụng phản ánh rõ nét nhất bản chất của ngân hàng thương mại trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ. Chức năng trung gian thanh toán: Ngân hàng thương mại đứng ra làm trung gian thanh toán giữa các khách hàng, giúp họ không phải trực tiếp thanh toán với nhau.
Chức năng trung gian thanh toán là kết quả của chức năng trung gian tín dụng. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, rất nhiều khách hàng đến mở tài khoản tại hệ thống, Ngân hàng thương mại sẽ có thể thực hiện chức năng trung gian thanh toán khi tiến hành trích tiền từ tài khoản người mua (theo lệnh của bên mua) để thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản của người bán thực hiện các khoản thu khác theo lệnh của khách hàng. Ngân hàng thương mại ra đời và phát triển đã làm thay đổi căn bản hoạt động thanh toán.