Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sự ổn định tài chính của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đóng vai trò then chốt đối với sự an toàn của toàn bộ hệ thống tài chính và nền kinh tế. Sự sụp đổ hoặc mất niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng có thể châm ngòi cho các cuộc khủng hoảng mang tính hệ thống. Tại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2018, việc nâng cao năng lực và đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng là trọng tâm điều hành của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Quá trình tái cơ cấu diễn ra mạnh mẽ thông qua việc thực hiện Đề án "Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015" (phê duyệt ngày 01/03/2012) và tiếp tục trong giai đoạn 2016 – 2018 gắn liền với việc xử lý nợ xấu, mua bán – sáp nhập ngân hàng, tăng vốn điều lệ và hoàn thiện hành lang pháp lý về quản trị rủi ro.

Từ năm 2016, nền kinh tế phát triển nhanh khiến cơ cấu tín dụng thay đổi, tín dụng ngắn hạn tăng mạnh trong khi tín dụng trung và dài hạn có xu hướng tăng chậm lại. Hoạt động mở rộng tín dụng song hành cùng quá trình sáp nhập đặt ra nhiều yêu cầu đối với việc kiểm soát rủi ro thanh khoản và duy trì an toàn vốn. Trong khi đó, các công trình nghiên cứu định lượng thực nghiệm về sự ổn định tài chính của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn này còn hạn chế. Do đó, khóa luận "Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam" được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho công tác quản trị rủi ro ngân hàng và hoạch định chính sách giám sát.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu chung: Trên cơ sở phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2014 – 2018, đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao sự ổn định tài chính của hệ thống trong tương lai.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sự ổn định tài chính của hệ thống NHTM;
    • Xác định, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của hệ thống NHTM Việt Nam;
    • Đề xuất các hàm ý chính sách phù hợp cho cơ quan quản lý nhà nước và các NHTM Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự ổn định tài chính của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Mẫu nghiên cứu gồm 19 NHTM cổ phần tại Việt Nam (gồm 03 NHTM có vốn Nhà nước trên 50% là BIDV, VietinBank, Vietcombank và 16 NHTM cổ phần tư nhân; trong đó có 13 ngân hàng đã niêm yết trên HOSE và HNX). Mẫu đại diện chiếm 71,8% tổng tài sản của toàn hệ thống NHTM tại thời điểm 31/12/2018 (tương đương 6.615 nghìn tỷ đồng).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 5 năm từ năm 2014 đến năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận vấn đề nghiên cứu từ khung lý thuyết kinh tế học tiền tệ - ngân hàng và lý thuyết bất ổn tài chính:

  • Lý thuyết bất ổn tài chính của Hyman Minsky (1919 – 1996): Đưa ra hai định lý về chuyển dịch trạng thái tài chính từ ổn định sang không ổn định trong thời kỳ thịnh vượng kéo dài, dẫn đến "khoảnh khắc Minsky" khi các tổ chức buộc phải bán tháo tài sản để thanh lý nợ do thâm hụt dòng tiền đầu tư rủi ro.
  • Các quan điểm học thuật về ổn định tài chính: Tiếp cận các nghiên cứu của Frederic Mishkin (1999), Davis (2001), Nout Wellink (2002), Buiter (2008), Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc, Brunnermeier và cộng sự (2009), Segoviano và Goodhart (2009), Ozili và Thankom (2018). Đồng thời phân tích cơ chế bất ổn qua mô hình tháo chạy ngân hàng (Bank Run) của Diamond và Dybvig (1983), khủng hoảng thanh khoản do mất cân xứng kỳ hạn tài sản - công nợ của Lai (2002), cùng các yếu tố giám sát an toàn vĩ mô của Barth và cộng sự (2013), Čihák và Tieman (2007).
  • Khung pháp lý và chuẩn mực điều hành: Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM, các văn bản quy phạm pháp luật của Ngân hàng Nhà nước và Chuẩn mực Basel II về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR).

Phương pháp đo lường sự ổn định tài chính được thực hiện thông qua chỉ số rủi ro phá sản Z-score (kế thừa từ Edward I. Altman 1968; Berger 2008; Groeneveld và De Vries 2009; Mercieca và cộng sự 2007; Boyd, De Nicolo và Jalal 2006; Laeven và Levine 2009; Čihák và Hesse 2010):

$$\text{Z-score}{i,t} = \frac{\text{ROA}{i,t} + \text{EA}_{i,t}}{\text{SD}(\text{ROA}_i)}$$

Trong đó:

  • $\text{ROA}_{i,t}$: Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bình quân hàng năm của ngân hàng $i$ tại năm $t$.
  • $\text{EA}_{i,t}$: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản hàng năm của ngân hàng $i$ tại năm $t$.
  • $\text{SD}(\text{ROA}_i)$: Độ lệch chuẩn của tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản của ngân hàng $i$ trong giai đoạn 5 năm (2014 – 2018).

Chỉ số Z-score đo lường số độ lệch chuẩn mà lợi nhuận trên tài sản của ngân hàng có thể sụt giảm trước khi vốn chủ sở hữu bị triệt tiêu hoàn toàn. Giá trị Z-score càng cao phản ánh xác suất mất khả năng thanh toán càng thấp, tức mức độ ổn định tài chính của ngân hàng càng cao.

Mô hình kinh tế lượng phân tích tác động được xây dựng dưới dạng hồi quy dữ liệu bảng (Panel Data) với 95 quan sát:

$$\text{Z-score}{it} = c_i + \beta_1 \text{ROE}{it} + \beta_2 \text{EA}{it} + \beta_3 \text{DNTG}{it} + \beta_4 \text{DNTTS}{it} + \beta_5 \text{SIZE}{it} + \beta_6 \Delta\text{EAT}{it} + \beta_7 \text{NIM}{it} + \varepsilon_{it}$$

Biến Diễn giải Cách tính toán Kỳ vọng
Z-score Chỉ số ổn định tài chính $(\text{ROA} + \text{EA}) / \text{SD}(\text{ROA})$ Biến phụ thuộc
ROE Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu bình quân $(+)$
EA Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản Vốn chủ sở hữu / Tổng tài sản $(+)$
DNTG Khả năng thanh khoản Dư nợ khách hàng (trước dự phòng) / Tiền gửi khách hàng $(+)$
DNTTS Quản lý chất lượng tài sản Dư nợ khách hàng / Tổng tài sản $(+/-)$
SIZE Quy mô ngân hàng Logarit tự nhiên của tổng tài sản $\ln(\text{Tổng tài sản})$ $(+)$
$\Delta\text{EAT}$ Tăng trưởng lợi nhuận $(\text{EAT}t - \text{EAT}{t-1}) / \text{EAT}_{t-1}$ $(+)$
NIM Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Tỷ suất sinh lợi tài sản có sinh lãi $-$ Tỷ lệ chi phí tài sản có sinh lãi $(-)$

Quy trình ước lượng kinh tế lượng bao gồm:

  1. Ước lượng mô hình Hồi quy gộp (Pooled OLS), Mô hình Tác động cố định (FEM) và Mô hình Tác động ngẫu nhiên (REM).
  2. Kiểm định Hausman (1978) để lựa chọn mô hình tối ưu giữa FEM và REM.
  3. Thực hiện kiểm định Wald (kiểm tra hiện tượng phương sai sai số thay đổi) và kiểm định Wooldridge (kiểm tra hiện tượng tự tương quan chuỗi).
  4. Áp dụng phương pháp Ước lượng bình phương nhỏ nhất khái quát hóa (GLS) nhằm khắc phục các khuyết tật về phương sai thay đổi và tự tương quan, đảm bảo tính không chệch và hiệu quả của các ước lượng.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ Báo cáo tài chính đã kiểm toán giai đoạn 2014 – 2018 của 19 NHTM cổ phần, Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Báo cáo kinh tế - xã hội của Tổng cục Thống kê và cổng thông tin tài chính Vietstock. Dữ liệu được tính toán và xử lý bằng Microsoft Excel và phần mềm Stata 13.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến sự ổn định tài chính của hệ thống ngân hàng thương mại

Chương 1 tổng hợp các khái niệm cơ bản về NHTM (theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới và Nghị định số 59/2009/NĐ-CP), ba chức năng cốt lõi (trung gian tài chính, trung gian thanh toán, tạo tiền) và ba nhóm hoạt động chính (huy động vốn, cấp tín dụng, các hoạt động phi tín dụng/dịch vụ). Tác giả làm rõ bản chất của sự ổn định tài chính, các nguyên nhân dẫn đến bất ổn như rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, sự bất cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản nợ ngắn hạn và tài sản có trung - dài hạn, cùng hiệu ứng lây truyền rủi ro hệ thống.

Về bối cảnh thực tiễn kinh tế vĩ mô Việt Nam giai đoạn 2014 – 2018, số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy nền kinh tế có sự tăng trưởng vững chắc:

  • Quy mô GDP (theo PPP): Năm 2014 đạt 487,2 tỷ USD; năm 2015 đạt 519,7 tỷ USD; năm 2016 đạt 552,0 tỷ USD; năm 2017 đạt 589,7 tỷ USD và năm 2018 đạt đỉnh 631,4 tỷ USD (bình quân mỗi năm tăng hơn 45 triệu USD).
  • Tốc độ tăng trưởng GDP: Năm 2014 đạt 5,98%; năm 2015 đạt 6,68%; năm 2016 đạt 6,21%; năm 2017 đạt 6,81% và năm 2018 đạt 7,08% (mức tăng trưởng cao nhất trong cả giai đoạn).
  • Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân: Năm 2014 tăng 1,84%; năm 2015 tăng 0,63% (mức thấp nhất trong vòng 15 năm); năm 2016 tăng 2,66%; năm 2017 tăng 3,53% và năm 2018 tăng 3,54% (đều nằm trong ngưỡng mục tiêu 4% của Quốc hội).

Chương 1 cũng tổng quan các công trình nghiên cứu thực nghiệm trong nước (Nguyễn Thanh Dương 2013; Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai 2015; Nguyễn Đăng Tùng và Bùi Thị Len 2015; Đặng Văn Dân 2015; Hoàng Công Gia Khánh và Trần Hùng Sơn 2015; Nguyễn Minh Hà và Nguyễn Bá Hướng 2016; Huỳnh Thị Phương Thảo 2018) và các nghiên cứu quốc tế (Hesse và Cihak 2007; Beck và cộng sự 2006; Xiaoqing Fu, Lin và Molyneux 2012; Strobel và Lepetit 2015; N. Karim và cộng sự 2018; Ozili 2018, 2019). Từ đó, tác giả xác định khoảng trống nghiên cứu, đề xuất mô hình phân tích và xây dựng hệ thống giả thuyết nghiên cứu gồm 7 biến độc lập tác động đến Z-score.

Chương 2: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

Chương 2 trình bày chi tiết thực trạng hệ thống NHTM Việt Nam, tính toán chỉ số Z-score và tiến hành phân tích hồi quy kinh tế lượng.

Tính đến cuối năm 2018, hệ thống NHTM Việt Nam gồm 95 tổ chức:

Loại hình tổ chức tín dụng Số lượng
NHTM có vốn Nhà nước (01 ngân hàng 100% vốn NN, 03 ngân hàng NN nắm >50%, 03 ngân hàng mua 0 đồng) 7
NHTM cổ phần 28
Ngân hàng liên doanh 2
Ngân hàng 100% vốn nước ngoài 9
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam 49
Tổng cộng 95

Phân tích số liệu thực trạng hoạt động giai đoạn 2016 – 2018 theo công bố của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:

Chỉ tiêu phân tích Nhóm ngân hàng Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 So sánh 2017/2016 So sánh 2018/2017
Tổng tài sản
(Nghìn tỷ đồng)
NHTM có vốn Nhà nước 4.021,55 4.745,74 5.059,23 $+724,19$ $(+18,01%)$ $+313,49$ $(+6,61%)$
NHTM cổ phần 3.422,83 4.028,50 4.554,98 $+605,67$ $(+17,69%)$ $+526,48$ $(+13,07%)$
NHTM liên doanh, nước ngoài 828,32 954,17 1.136,61 $+125,84$ $(+15,19%)$ $+182,45$ $(+19,12%)$
Toàn hệ thống 8.272,70 9.728,41 10.750,83 $+1.455,71$ $(+17,60%)$ $+1.022,42$ $(+10,51%)$
Vốn tự có
(Tỷ đồng)
NHTM có vốn Nhà nước 229.499 254.655 268.599 $+25.156$ $(+10,96%)$ $+13.944$ $(+5,48%)$
NHTM cổ phần 254.151 290.626 338.183 $+36.475$ $(+14,35%)$ $+47.557$ $(+16,36%)$
NHTM liên doanh, nước ngoài 130.955 141.838 162.864 $+10.883$ $(+8,31%)$ $+21.026$ $(+14,82%)$
Toàn hệ thống 614.605 687.119 769.646 $+72.514$ $(+11,80%)$ $+82.527$ $(+12,01%)$
ROA (%) NHTM có vốn Nhà nước 0,59 0,58 0,70 $-0,01$ $+0,12$
NHTM cổ phần 0,39 0,75 1,00 $+0,36$ $+0,25$
NHTM liên doanh, nước ngoài 0,80 1,01 1,10 $+0,21$ $+0,09$
ROE (%) NHTM có vốn Nhà nước 9,78 12,03 12,30 $+2,25$ $+0,27$
NHTM cổ phần 5,44 10,21 12,80 $+4,77$ $+2,59$
NHTM liên doanh, nước ngoài 4,91 6,52 7,60 $+1,61$ $+1,08$
Tỷ lệ CAR (%) NHTM có vốn Nhà nước 9,92 9,52 9,50 $-0,40$ $-0,02$
NHTM cổ phần 11,80 11,47 11,20 $-0,33$ $-0,27$
NHTM liên doanh, nước ngoài 33,20 29,11 25,90 $-4,09$ $-3,21$
Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn (%) NHTM có vốn Nhà nước 37,32 33,44 — $-3,88$ —
NHTM cổ phần 39,93 34,47 — $-5,46$ —

Kết quả đo lường và so sánh chỉ số Z-score cho thấy:

  • Z-score bình quân của hệ thống phản ánh mức độ ổn định có sự phân hóa theo hình thức sở hữu và tình trạng niêm yết.
  • Nhóm NHTM có vốn Nhà nước và nhóm NHTM cổ phần có sự khác biệt về năng lực đệm vốn và khả năng sinh lời biến động.
  • Nhóm các ngân hàng đã niêm yết trên thị trường chứng khoán nhìn chung có điểm Z-score và mức độ minh bạch cao hơn nhóm ngân hàng chưa niêm yết.

Quá trình phân tích thực nghiệm kinh tế lượng được thực hiện qua các bước:

  1. Thống kê mô tả và lập ma trận tương quan giữa 7 biến độc lập (ROE, EA, DNTG, DNTTS, SIZE, $\Delta$EAT, NIM) với biến phụ thuộc Z-score.
  2. Ước lượng hồi quy qua ba mô hình Pooled OLS, FEM và REM.
  3. Thực hiện kiểm định Hausman để chọn mô hình phù hợp giữa FEM và REM.
  4. Kiểm định chẩn đoán khuyết tật mô hình: phát hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi bằng kiểm định Wald và hiện tượng tự tương quan bằng kiểm định Wooldridge.
  5. Khắc phục hoàn toàn các khuyết tật trên bằng phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất khái quát hóa (GLS) để thu được kết quả hồi quy vững.

Chương 3: Một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao sự ổn định tài chính của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

Dựa trên các phát hiện thực nghiệm và thực trạng hoạt động, chương 3 đề xuất các định hướng chính sách được phân nhóm cụ thể:

  • Đối với Cơ quan quản lý Nhà nước (Ngân hàng Nhà nước): Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về an toàn hoạt động ngân hàng; tăng cường công tác thanh tra, giám sát vi mô và vĩ mô; kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ nợ xấu và việc cấp tín dụng vào các lĩnh vực rủi ro; đẩy nhanh tiến trình áp dụng chuẩn mực an toàn vốn Basel II; hoàn thiện cơ chế phối hợp xử lý nợ xấu và tái cơ cấu các tổ chức tín dụng yếu kém.
  • Đối với các Ngân hàng thương mại: Chủ động tăng cường quy mô vốn tự có và vốn chủ sở hữu nhằm tạo "tấm đệm" phòng ngừa rủi ro; quản trị chặt chẽ khả năng thanh khoản và tỷ lệ dư nợ trên tiền gửi (DNTG); kiểm soát hợp lý chất lượng tài sản và chi phí lãi cận biên (NIM); nâng cao năng lực thẩm định tín dụng, hạn chế tăng trưởng nóng; đẩy mạnh đa dạng hóa cơ cấu thu nhập phi tín dụng để nâng cao hiệu quả sinh lời (ROA, ROE) một cách an toàn và bền vững.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể:

  1. Lượng hóa mức độ ổn định tài chính: Đã tính toán và xếp hạng chỉ số Z-score cho 19 NHTM cổ phần Việt Nam trong suốt giai đoạn 2014 – 2018; đồng thời so sánh sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm NHTM có vốn Nhà nước với NHTM cổ phần tư nhân, và giữa nhóm ngân hàng niêm yết với nhóm chưa niêm yết.
  2. Đánh giá thực trạng tài chính hệ thống: Phản ánh bức tranh toàn cảnh về sự tăng trưởng quy mô tài sản (đạt 10.750,83 nghìn tỷ đồng vào năm 2018), vốn tự có (đạt 769.646 tỷ đồng vào năm 2018), sự phục hồi của khả năng sinh lời ROA và ROE (ROE nhóm NHTM cổ phần tăng từ 5,44% năm 2016 lên 12,80% năm 2018), cùng xu hướng suy giảm của hệ số an toàn vốn CAR trong toàn hệ thống.
  3. Xác định các nhân tố ảnh hưởng: Kiểm định thành công mô hình hồi quy dữ liệu bảng, chỉ ra mức độ tác động và chiều hướng của các nhân tố vi mô (khả năng sinh lời ROE, tỷ lệ vốn chủ sở hữu EA, thanh khoản DNTG, chất lượng tín dụng DNTTS, quy mô tài sản SIZE, tăng trưởng lợi nhuận $\Delta$EAT và tỷ lệ thu nhập lãi cận biên NIM) đến chỉ số ổn định tài chính Z-score sau khi khắc phục khuyết tật mô hình bằng phương pháp GLS.
  4. Đóng góp học thuật và thực tiễn: Kế thừa và phát triển phương pháp đo lường Z-score kết hợp kỹ thuật kinh tế lượng dữ liệu bảng vào bối cảnh hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn tái cơ cấu 2014 – 2018, cung cấp bằng chứng thực nghiệm rõ ràng phục vụ công tác quản trị nội bộ tại NHTM và chính sách giám sát của NHNN.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có các hạn chế được xác định dựa trên phạm vi và dữ liệu thực tế:

  • Hạn chế về cỡ mẫu: Do tính khả dụng và khả năng tiếp cận báo cáo tài chính kiểm toán công khai, mẫu nghiên cứu chỉ thu thập được 19 NHTM cổ phần, chưa thể bao quát toàn bộ 100% các NHTM có vốn nhà nước (như Agribank) và các NHTM 100% vốn nước ngoài.
  • Hạn chế về thước đo Z-score: Chỉ số Z-score tính toán dựa trên số liệu kế toán trên báo cáo tài chính đã công bố, do đó mức độ tin cậy phụ thuộc vào tính minh bạch của số liệu kế toán và chưa phản ánh được toàn diện rủi ro mang tính liên kết hệ thống đa chiều.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ hệ thống TCTD khi điều kiện dữ liệu cho phép; kéo dài chuỗi thời gian phân tích; tích hợp thêm các biến số môi trường vĩ mô và chất lượng thể chế vào mô hình định lượng.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Tài chính – Ngân hàng và Kinh tế: Tham khảo phương pháp xây dựng mô hình dữ liệu bảng (Pooled OLS, FEM, REM, kiểm định Hausman, kiểm định khuyết tật và ước lượng GLS), cách tính toán chỉ số Z-score để đo lường độ ổn định ngân hàng.
  • Nhà nghiên cứu và phân tích tài chính: Sử dụng hệ thống dữ liệu thống kê chi tiết về tổng tài sản, vốn tự có, CAR, ROA, ROE của hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2014 – 2018 phục vụ các phân tích so sánh và đánh giá rủi ro phá sản ngân hàng.

Câu hỏi thường gặp

1. Chỉ số Z-score trong khóa luận được tính toán theo công thức nào và có ý nghĩa gì?

Chỉ số Z-score được xác định bằng công thức $\text{Z-score}{i,t} = (\text{ROA}{i,t} + \text{EA}_{i,t}) / \text{SD}(\text{ROA}_i)$, trong đó $\text{ROA}$ là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, $\text{EA}$ là tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, và $\text{SD}(\text{ROA})$ là độ lệch chuẩn của ROA trong 5 năm (2014 – 2018). Chỉ số này đo lường khoảng cách tới ngưỡng phá sản của ngân hàng; giá trị Z-score càng lớn thể hiện xác suất mất khả năng thanh toán càng thấp và độ ổn định tài chính càng cao.

2. Mẫu dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm của đề tài bao gồm những ngân hàng nào?

Mẫu nghiên cứu gồm 19 NHTM cổ phần tại Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2018 (tổng cộng 95 quan sát). Mẫu gồm 03 NHTM có vốn Nhà nước trên 50% (BIDV, VietinBank, Vietcombank) và 16 NHTM cổ phần khác; trong đó có 13 ngân hàng niêm yết trên HOSE và HNX (BID, CTG, VCB, ACB, MBB, EIB, HDB, TCB, TPB, VPB, NCB, SHB, STB) và 6 ngân hàng chưa niêm yết. Mẫu nghiên cứu chiếm 71,8% tổng tài sản của toàn hệ thống NHTM Việt Nam tại thời điểm 31/12/2018.

3. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) của các nhóm NHTM Việt Nam diễn biến như thế nào trong giai đoạn 2016 – 2018?

Giai đoạn 2016 – 2018, tỷ lệ CAR của toàn hệ thống có xu hướng giảm liên tục:

  • Nhóm NHTM có vốn Nhà nước giảm từ 9,92% (2016) xuống 9,52% (2017) và còn 9,50% (2018).
  • Nhóm NHTM cổ phần giảm từ 11,80% (2016) xuống 11,47% (2017) và còn 11,20% (2018).
  • Nhóm NHTM liên doanh, nước ngoài giảm từ 33,20% (2016) xuống 29,11% (2017) và còn 25,90% (2018).

4. Khóa luận sử dụng những kỹ thuật và phương pháp kinh tế lượng nào để xử lý dữ liệu bảng?

Khóa luận sử dụng phần mềm Stata 13 và Excel để ước lượng ba mô hình cơ bản: Pooled OLS, FEM (Fixed Effects) và REM (Random Effects). Sau đó dùng kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình, thực hiện kiểm định Wald để phát hiện phương sai sai số thay đổi và kiểm định Wooldridge để phát hiện tự tương quan chuỗi. Cuối cùng, tác giả áp dụng mô hình bình phương nhỏ nhất khái quát hóa (GLS) để khắc phục triệt để các khuyết tật trên.

5. Mô hình hồi quy thực nghiệm của đề tài bao gồm những biến độc lập nào?

Mô hình nghiên cứu bao gồm 7 biến độc lập tác động đến Z-score:

  1. ROE (Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu);
  2. EA (Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản);
  3. DNTG (Tỷ lệ dư nợ khách hàng trên tiền gửi khách hàng);
  4. DNTTS (Tỷ lệ dư nợ khách hàng trên tổng tài sản);
  5. SIZE (Quy mô ngân hàng, đo bằng $\ln(\text{Tổng tài sản})$);
  6. $\Delta\text{EAT}$ (Tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận sau thuế);
  7. NIM (Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Quý Quốc đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về sự ổn định tài chính của hệ thống ngân hàng thương mại. Thông qua việc tính toán chỉ số Z-score và áp dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng (GLS) trên mẫu 19 NHTM Việt Nam giai đoạn 2014 – 2018, nghiên cứu đã lượng hóa thành công tác động của các yếu tố nội tại đến mức độ ổn định tài chính của ngân hàng. Các kết quả phân tích thực nghiệm là cơ sở khoa học quan trọng để tác giả đề xuất các hàm ý chính sách thiết thực đối với Ngân hàng Nhà nước và các NHTM nhằm nâng cao năng lực an toàn vốn, kiểm soát rủi ro thanh khoản và duy trì sự ổn định bền vững cho toàn hệ thống tài chính Việt Nam.