CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG ĐIỀU KIỆN TÁI CẤU TRÚC NGÀNH NGÂN HÀNG 1. Các khái niệm có liên quan 1. Ngân hàng thương mại Lịch sử phát triển của ngành ngân hàng gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, và sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường đã làm biến đổi mạnh mẽ hệ thống ngân hàng thương mại từ những hệ thống ngân hàng giản đơn, sơ khai ban đầu nay đã trở thành những ngân hàng hiện đại, những tập đoàn tài chính khổng lồ, đa quốc gia, từng đạo luật mà khái niệm ngân hàng thương mại có thể được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo ngân hàng thế giới (World Bank), “ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính nhận tiền gửi chủ yếu dưới dạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi rút ra với một thông báo ngắn hạn (tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các khoản tiết kiệm)” Theo Peter S.Rose, giáo sư kinh tế học và tài chính trường đại học Yale “ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán.
Và cũng thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Theo quy định tại điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 của Quốc hội, “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” Theo Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại, “Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động của ngân hàng và các hoạt động 8 kinh doanh khác có liên quan”. Như vậy, qua các khái niệm khác nhau về ngân hàng thương mại có thể rút ra: Ngân hàng thương mại là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế, NHTM là một loại định chế tài chính trung gian mà qua đó các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội được tập trung lại và hỗ trợ tài chính cho các thành phần kinh tế trong xã hội. Bên cạnh đó, thông qua các hoạt động của mình các NHTM còn cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng của mình đáp ứng nhu cầu của các thành phần kinh tế trong xã hội nhằm gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng thể hiện qua các chức năng cụ thể sau: Trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM.
Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay. Lợi nhuận của ngân hàng là khoản chênh lệch giữa thu nhập từ hoạt động cho vay và chi phí huy động vốn, từ đó góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay. Là trung gian tín dụng nên hoạt động của hệ thống NHTM có ảnh hưởng lan tỏa đối với nền kinh tế, xã hội.
Một khi cấu trúc của hệ thống ngân hàng có bất ổn sẽ làm suy yếu hệ thống NHTM, nguy cơ mất an toàn của hệ thống ngân hàng sẽ có ảnh hưởng lan truyền, đe dọa sự ổn định của nền kinh tế Tạo phương tiện thanh toán Tiền có một chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toán. Các NHTM đã không tạo được tiền kim loại nhưng các ngân hàng tạo phương tiện thanh toán khi phát hành giấy nhận nợ với khách hàng. Giấy nhận nợ do ngân hàng phát hành với ưu điểm nhất định đã trở thành phương tiện thanh toán rộng rãi được nhiều người chấp nhận. Như vậy, ban đầu các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán thay cho tiền kim loại dựa trên số lượng tiền kim loại đang nắm giữ.
Với nhiều ưu thế, dần dần giấy nợ của ngân hàng đã thay thế tiền 9 kim loại làm phương tiện lưu thông và phương tiện cất trữ; nó trở thành tiền giấy. Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để có được hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu. Theo quan điểm hiện đại, đại lượng tiền tệ bao gồm: tiền giấy trong lưu thông (M0), số dư trên tài khoản tiền gửi giao dịch của khách hàng tại ngân hàng, tiền gửi trên tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn… Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng hóa và dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay (hay tạo tín dụng), các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán (tham gia tạo ra M1).
Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phương tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho vay. Trung gian thanh toán Ngân hàng trở thành trung gian trong thanh toán lớn nhất ở hầu hết các quốc gia hiện nay. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ. Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ…cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần.
Các ngân hàng còn thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng Trung ương (NHTW) hoặc thông qua các trung tâm thanh toán. Nhiều hình thức thanh toán đã được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới. Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả của thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả. Chức năng cung ứng các dịch vụ tài chính Ngoài chức năng trung gian tín dụng, tạo phương tiện thanh toán và trung gian thanh toán ngân hàng thương mại còn cung ứng các dịch vụ tài chính đa 10 dạng cho nền kinh tế xã hội, như: tư vấn tài chính, quản lý tài chính cá nhân, kinh doanh ngoại hối, bảo lãnh,.
Hiệu quả tài chính Bản chất tài chính doanh nghiệp là những mối quan hệ tiền tệ gắn liền trực tiếp với việc tổ chức huy động, phân phối, sử dụng và quản lý vốn trong quá trình kinh doanh. Thực tế hiện nay có hai quan điểm về hiệu quả tài chính: - Quan điểm thứ nhất coi hiệu quả tài chính là hiệu quả của việc huy động, quản lý và sử dụng vốn trong quá trình kinh doanh. - Quan điểm thứ hai xem hiệu quả tài chính là hiệu quả của việc huy động vốn, còn hiệu quả của việc quản lý và sử dụng vốn là hiệu quả kinh doanh Theo Anderson (1982) hiệu quả kinh doanh là một tập con của hiệu quả tổ chức. Hiệu quả kinh doanh được thể hiện ở ba cấp độ hiệu quả: hiệu quả tài chính, hiệu quả hoạt động, hiệu quả tổ chức.
Ông tin rằng các nghiên cứu về hiệu quả chủ yếu tập trung vào hai cấp độ hiệu quả đầu tiên mà ít chú ý đến đến cấp độ hiệu quả thứ ba. Một số nhà nghiên cứu xem xét và đánh giá hiệu quả của một doanh nghiệp cho rằng phân tích hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp bằng các chỉ tiêu tài chính là thích hợp. Tương tự như vậy, hiệu quả tài chính là chấp nhận được trong việc tìm hiểu các hiệu quả của một tổ chức. Nghiên cứu của Woo và Willard (1983) cho thấy các doanh nghiệp đã sử dụng 14 thước đo hiệu quả tài chính khác nhau.
Bao gồm thu nhập ròng, chỉ tiêu hoàn vốn đầu tư (ROI - Return on Investmenr), chỉ tiêu lợi nhuận trên doanh thu (ROS – Return on Sale), tăng trưởng doanh thu, dòng tiền đầu tư, thị phần, thị phần tăng thêm, chất lượng sản phẩm, nghiên cứu phát triển sản phẩm (Research & Development), các dạng biến thể của ROI, phần trăm thay đổi trong ROI và phần trăm thay đổi trong dòng tiền của mỗi khoản đầu tư. Các thước đo tài chính như ROI, ROS và các chỉ tiêu khác đã được sử dụng khá nhiều trong các so sánh 11 đa ngành, nhưng được sử dụng ít hơn trong các đánh giá một ngành đơn lẻ như ngành ngân hàng Đề tài đúng trên quan điểm thứ nhất, coi hiệu quả tài chính là hiệu quả của việc huy động, quản lý và sử dụng vốn trong quá trình kinh doanh. Do vậy có thể hiểu rằng“hiệu quả tài chính là hiệu quả của việc giữ gìn và phát triển nguồn vốn chủ sở hữu”. Như vậy hiệu quả tài chính là vấn đề được các nhà quản trị và đầu tư quan tâm, vì nó là mục tiêu chủ yếu mà các nhà quản trị nhất là khi họ cũng chính là chủ sở hữu 1.
Tái cấu trúc ngành ngân hàng Theo Ngân hàng thế giới (World Bank, 1998) “Tái cấu trúc ngành ngân hàng bao gồm một loạt các biện pháp được phối hợp chặt chẽ nhằm duy trì hệ thống thanh toán quốc gia và khả năng tiếp cận các dịch vụ tín dụng, đồng thời xử lý các vấn đề còn tồn tại trong hệ thống tài chính là nguyên nhân gây ra khủng hoảng” Theo Claudia Dziobek và Ceyla Pazarbasioglu, “Tái cấu trúc ngành ngân hàng là biện pháp hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu suất hoạt động của ngân hàng, bao gồm phục hồi khả năng thanh toán và khả năng sinh lời, cải thiện năng lực hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng để làm tròn trách nhiệm của một trung gian tài chính và khôi phục lòng tin của công chúng”. Theo quan điểm này thì tái cấu trúc ngành ngân hàng bao gồm tái cấu trúc tài chính (financial restructuring), tái cấu trúc hoạt động (operational restructuring) và giám sát an toàn. Trong đó, tái cấu trúc tài chính hướng đến phục hồi khả năng thanh toán bằng cách cải thiện bảng cân đối của các ngân hàng thông qua các biện pháp như tăng vốn, giảm nợ, hoặc nâng giá trị tài sản.