CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.Tổng quan về báo cáo tài chính và phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 1.Các khái niệm cơ bản liên quan: Tình hình tài chính của Công ty phản ánh nguồn lực kinh tế( tài sản ) và nguồn hình thành tài sản( nguồn vốn ), tình hình kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh hay tình hình về luồng tiền luân chuyển thường được thể hiện thông qua những số liệu trên báo cáo tài chính (Nguyễn Năng Phúc,2013 ). Phân tích tình hình tài chính Công ty là một hệ thống các phương pháp nhằm đánh giá tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty trong một thời gian hoạt động nhất định, trên cơ sở đó giúp các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra các quyết định chuẩn xác trong quá trình kinh doanh (Nguyễn Năng Phúc,2013). Báo cáo tài chính được xem như là hệ thống các bảng biểu, mô tả thông tin về tình hình tài chính, kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và nợ phải trả cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
Nói theo một cách khác thì báo cáo tài chính là một phương tiện nhằm trình bày khả năng sinh lời và thực trạng tài chính doanh nghiệp tới những người quan tâm (chủ doanh nghiệp nhà đầu tư, nhà cho vay, cơ quan thuế và các cơ quan chức năng…). Theo luật của cơ quan thuế thì tất cả doanh nghiệp trực thuộc các ngành, các thành phần kinh tế đều phải lập và trình bày báo cáo tài chính năm. Còn đối với các Công ty hay tổng Công ty có các đơn vị trực thuộc, ngoài báo cáo tài chính năm thì còn phải thực hiện báo cáo tài chính tổng hợp hay báo cáo tài chính hợp nhất vào cuối kỳ kế toán năm dựa trên báo cáo tài chính của các đơn vị trực thuộc. Đối với các doanh nghiệp trực thuộc nhà nước và các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán thì sao? Các doanh nghiệp này ngoài báo cáo tài chính năm phải lập thì các doanh nghiệp này phải lập thêm báo cáo SVTH: Trần Thị Bích Ngọc 5 van Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS.
Nguyễn Thị Thanh Huyền tài chính giữa niên độ (báo cáo quý – trừ quý 4) dạng đầy đủ. Riêng đối với Tổng Công ty trực thuộc Nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước có các đơn vị kế toán trực thuộc phải lập báo cáo tài chính tổng hợp hoặc báo cáo tài chính hợp nhất. Vai trò, nhiệm vụ của việc phân tích tình hình tài chính 1. Vai trò của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là việc làm có vai trò quan trọng đối với những người sử dụng chúng, cụ thể: a)Về phía các đối tượng bên trong Công ty: - Các nhà quản trị trong Công ty sẽ phân tích tình hình tài chính nội bộ, công việc này khác với phân tích tài chính do nhà phân tích bên ngoài Công ty tiến hành.Vì các nhà quản trị bên trong Công ty có nhiều thông tin và hiểu rõ về Công ty hơn nên đây được xem là lợi thế để có thể phân tích tài chính tốt hơn.
Các nhà quản trị bên trong Công ty sử dụng thông tin này vào nhiều việc vì họ quan tâm đến nhiều mục tiêu khác nhau như cách thức nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, cách tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, cách làm giảm chi phí thấp nhất mà vẫn thân thiện với môi trường phù hợp với quy định pháp luật hiện hành trong việc xử lý nước thải. Nhưng trước hết vẫn là việc trả lãi cho các chủ nợ và thanh toán nợ cho khách hàng của Công ty là việc làm đầu tiên của các nhà quản trị trong Công ty quan tâm Thông tin sau khi phân tích sẽ giúp các nhà quản trị đánh giá được tình hình tài chính từ đó có thể đưa ra các tham mưu quyết định rồi lên kế hoạch để thực hiện. - Đối với công nhân viên, người lao động của Công ty: người lao động có nhu cầu biết được thông tin cơ bản về tình hình Công ty bởi vì nó liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm, đến công việc hiện tại và tương lai của họ. b)Về phía các đối tượng bên ngoài Công ty : - Đối với các nhà đầu tư vào Công ty là những người sử dụng thông tin phân tích để đề ra quyết định đầu tư vào Công ty này hay Công ty khác.
Vì mối quan tâm của những người này là khả năng hoàn vốn của việc đầu tư, mức sinh lời của việc đầu tư, tỷ lệ rủi ro có thể gặp phải khi quyết định đầu tư. SVTH: Trần Thị Bích Ngọc 6 van Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền - Đối với các chủ cho vay: cần thông tin về tiền và các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền, khả năng thanh toán tức thời của Công ty đó, rủi ro của việc cho Công ty này vay có cao hơn lợi nhuận đem lại cho họ. thông tin này giúp họ biết được khả năng trả nợ của Công ty đối với họ để đề ra quyết định hợp lý.
Thử lấy ví dụ là chúng ta là người cho vay thì điều đầu tiên chúng ta chú ý cũng sẽ là số vốn chủ sở hữu, nếu như ta thấy không chắc chắn khoản cho vay của mình sẽ được thanh toán thì trong trường hợp Công ty đó gặp phải rủi ro sẽ không có số vốn để đảm bảo cho chúng ta, đồng thời ta cũng quan tâm đến khả năng sinh lời của Công ty vì đó chính là cơ sở của việc hoàn trả vốn và lãi vay cho chúng ta sau này. Nhiệm vụ của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp Nhiệm vụ của việc tiến hành phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là căn cứ vào những số liệu tại Công ty, dùng chúng để phân tích về thực trạng, triển vọng của hoạt động tài chính, sản xuất kinh doanh rồi từ đó chỉ ra những điểm mạnh, những điểm yếu của các chỉ tiêu tài chính để xác định nguyên nhân đề ra giải pháp thích hợp. Các nguồn thông tin sử dụng cho phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 1. Báo cáo tài chính Phân tích tình hình tài chính cần sử dụng thông tin trên Báo cáo tài chính.
Hiện nay thì hệ thống Báo cáo tài chính áp dụng cho tất cả các Công ty, thuộc mọi thành phần kinh tế trong cả nước Việt Nam bao gồm 04 biểu mẫu báo cáo sau đây: - Bảng cân đối kế toán - Mẫu số B01-DN - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh - Mẫu số B02-DN - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ - Mẫu số B03-DN - Thuyết minh báo cáo tài chính - Mẫu số B09-DN a) Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định (cuối ngày cuối quý, cuối năm) (Nguyễn Năng Phúc, 2013). SVTH: Trần Thị Bích Ngọc 7 van Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền Các chỉ tiêu cũng được mã hóa để thuận tiện cho việc kiểm tra, đối chiếu, xử lý trên máy vi tính và được phản ánh theo số đầu năm, số cuối năm. Căn cứ bảng cân đối kế toán người sử dụng có thể nhận xét, đánh giá tổng quát tình hình tài sản, nguồn vốn của mỗi Công ty.
Bảng cân đối kế toán gồm hai phần: Tài sản và Nguồn vốn. Bảng cân đối kế toán thể hiện được phương trình kế toán cơ bản là: Tổng Tài Sản = Tổng Nguồn Vốn. b) Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính phản ánh tóm lược các khoản doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cho một năm kế toán nhất định, bao gồm kết quả hoạt động kinh doanh (hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính) và hoạt động khác (Nguyễn Năng Phúc, 2013). Báo cáo kết quả kinh doanh gồm 18 chỉ tiêu, báo cáo sẽ được chi tiết cho các hoạt động kinh doanh chính trong mỗi Công ty.
Hiểu cách khác báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là phương tiện giúp trình bày kết quả kinh doanh, thực trạng hoạt động kinh doanh của mỗi Công ty. c) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng dòng tiền trong kỳ kế toán của mỗi Công ty. Bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp thông tin về dòng tiền của Công ty giúp cho những người sử dụng thông tin có cơ sở để đánh giá về khả năng tạo ra dòng tiền và trình bày việc sử dụng những dòng tiền đã tạo ra đó trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty như thế nào. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được chia làm ba loại hoạt động kinh doanh: dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, dòng tiền từ hoạt động đầu tư, dòng tiền từ hoạt động tài chính.
- Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của Công ty: đây là dòng tiền chủ yếu và quan trọng của mỗi Công ty, thể hiện dòng tiền thu vào và chi ra liên quan đến doanh SVTH: Trần Thị Bích Ngọc 8 van Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền thu, chi phí của Công ty xảy ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Thông qua dòng tiền này để đánh giá khả năng tạo tiền từ hoạt động kinh doanh của Công ty, khả năng trang trải các khoản chi phí trong kỳ của mỗi Công ty. - Dòng tiền từ hoạt động đầu tư: đây là dòng tiền liên quan đến hoạt động đầu tư tài chính, mua sắm, xây dựng, nhượng bán, thanh lý các tài sản dài hạn.
Hoạt động đầu tư thường là hoạt động có dòng tiền vào ra ít hơn hoạt động kinh doanh. - Dòng tiền từ hoạt động tài chính: đây là dòng tiền thu vào và chi ra có liên quan đến hoạt động tài chính của mỗi Công ty: tiền thu lãi từ việc cho vay, thu từ lãi tiền gửi, tiền chi cho tiền trả nợ các khoản vay, trả lại vốn, cổ tức cho các chủ sở hữu. d) Thuyết minh báo cáo tài chính Thuyết minh báo cáo tài chính là loại báo cáo được sử dụng để trình bày những giải trình bằng lời về những số liệu trong các báo cáo trước đó.