CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận: Phân tích tài chính là một nội dung vô cùng quan trọng. Bởi phân tích tài chính là tạo ra một giá trị khổng lồ cho các nhà đầu tư, cung cấp các phân tích và đề xuất những lời khuyên đầu tư cho bản thân doanh nghiệp. Mục đích của phân tích tài chính là nhằm đánh giá tình hình tài chính và hoạt động của doanh nghiệp để có cơ sở đưa ra những quyết định hợp lý.
Tùy theo những lợi ích khác nhau, các bên có liên quan thường chú trọng đến những khía cạnh phân tích khác nhau. Nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ thường chú trọng đến tính thanh khoản và khả năng trả nợ các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp, trong khi các nhà đầu tư chỉ chú trọng đến khả năng trả nợ dài hạn và khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Do ở đây bài nghiên cứu đứng dưới góc độ nhà cung cấp tín dụng là ngân hàng Eximbank nên chỉ tập trung vào phân tích những chỉ tiêu tài chính quan trọng mang lại những lợi ích cho hoạt động tín dụng của ngân hàng. Phân tích tình hình tài chính: a.
Khái niệm: Phân tích tình hình tài chính là quá trình kiểm tra phân tích đánh giá thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp, thông qua đó kịp thời phát hiện những nguy cơ tiềm ẩn gây ra khó khăn về tài chính cho doanh nghiệp để từ đó có biện pháp xử lý kịp thời. Mục đích và ý nghĩa của phân tích tài chính: Theo Nguyễn Thị Ngọc Trang và Nguyễn Thị Liên Hoa, 2008, có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như: chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng.Mỗi đối tượng quan tâm với các mục đích khác nhau nhưng thường liên quan với nhau. Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ. Ngoài ra, các nhà quản SVTH: Nguyễn Thị Sơn Hà – MSSV: 40662314 Trang 4 Khóa luận tốt nghiệp ngành Kinh tế GVHD: Th.S Tô Thị Kim Hồng trị doanh nghiệp còn quan tâm đến mục tiêu khác như tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng doanh thu, giảm chi phí.
Tuy nhiên, doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện các mục tiêu này nếu họ kinh doanh có lãi và thanh toán được nợ. Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục rút cục sẽ bị cạn kiệt các nguồn lực và buộc phải đóng cửa, còn nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn trả cũng buộc phải ngừng hoạt động. Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của họ hướng chủ yếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy họ đặc biệt chú ý đến số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền nhanh, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, họ cũng rất quan tâm đến số lượng vốn chủ sở hữu vì đó là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro. Đối các nhà đầu tư, họ quan tâm đến lợi nhuận bình quân vốn của Công ty, vòng quay vốn, khả năng phát triển của doanh nghiệp.Từ đó ảnh hưởng tới các quyết định tiếp tục đầu tư và Công ty trong tương lai. Bên cạnh những nhóm người trên, các cơ quan tài chính, cơ quan thuế, nhà cung cấp, người lao động.cũng rất quan tâm đến bức tranh tài chính của doanh nghiệp với những mục tiêu cơ bản giống như các chủ ngân hàng, chủ doanh nghiệp và nhà đầu tư. Tất cả những cá nhân, tổ chức quan tâm nói trên đều có thể tìm thấy và thoả mãn nhu cầu về thông tin của mình thông qua hệ thống chỉ tiêu do phân tích báo cáo tài chính cung cấp.
Các báo cáo tài chính dùng trong phân tích tài chính: Theo TS. Phan Đức Dũng, 2009, định nghĩa: Bảng cân đối kế toán: Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. SVTH: Nguyễn Thị Sơn Hà – MSSV: 40662314 Trang 5 Khóa luận tốt nghiệp ngành Kinh tế GVHD: Th.S Tô Thị Kim Hồng Bảng cân đối kế toán có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý doanh nghiệp. Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu tài sản; nguồn vốn và cơ cấu nguồn hình thành của các tài sản đó.
Thông qua bảng cân đối kế toán có thể nhận xét, nghiên cứu và đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, có thể phân tích tình hình sử dụng vốn, khả năng huy động nguồn vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bảng cân đối kế toán được thành lập từ 2 phần: Tài sản và nguồn vốn. Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hay còn gọi bảng báo cáo thu nhập cho biết tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp từ việc tiêu hao chi phí tới doanh thu, thu nhập từ hoạt động của doanh nghiệp, việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng như trả lãi vay cho chủ nợ, nộp thuế thu nhập cho nhà nước, chi trả cổ tức cho cổ đông ưu đãi, báo cáo thu nhập chi tiết về doanh số, chi phí, lợi nhuận hay các khoản thua lỗ của công ty trong một thời kỳ.
Kết cấu báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm: - Phần I: Lãi, lỗ: Phản ánh tình hình kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính và các hoạt động khác. Tất cả các chỉ tiêu trong phần này đều trình bày số liệu của kỳ trước (để so sánh), tổng số phát sinh của ký báo cáo và số luỹ kế từ đầu năm đến cuối kỳ báo cáo. - Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước: Phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước về thuế và các khoản phải nộp khác. Báo cáo vốn cổ phần của cổ đông: Đây là báo cáo tài chính phản ánh sự biến động của vốn chủ sở hữu, báo cáo này thường được dùng để phân tích đánh giá nguyên nhân làm thay đổi vốn cổ phần là do phát hành mua lại cổ phiếu hay giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: SVTH: Nguyễn Thị Sơn Hà – MSSV: 40662314 Trang 6 Khóa luận tốt nghiệp ngành Kinh tế GVHD: Th.S Tô Thị Kim Hồng Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hay còn gọi là báo cáo dòng tiền cho biết khả năng tạo ra tiền của doanh nghiệp như thế nào thông qua báo cáo dòng tiền. Đây là báo cáo phản ánh dòng tiền thực thu vào và dòng tiền thực chi ra trong kỳ của doanh nghiệp, báo cáo dòng tiền cung cấp cho doanh nghiệp biết dòng tiền được tạo ra từ hoạt động nào (hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư hay hoạt động tài trợ). Mô hình phân tích SWOT: Theo TS.Nguyễn Thượng Thái, 2007, đưa ra định nghĩa như sau: SWOT là tập hợp viết tắt những chữ cái đầu tiên của các từ tiếng Anh: Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội) và Threats (Nguy cơ). Đây là một công cụ cực kỳ hữu ích giúp tìm hiểu vấn đề hoặc ra quyết định trong việc tổ chức, quản lý cũng như trong kinh doanh.
Nói một cách hình ảnh, SWOT là khung lý thuyết mà dựa vào đó, chúng ta có thể xét duyệt lại các chiến lược, xác định vị thế cũng như hướng đi của một tổ chức, một công ty, phân tích các đề xuất kinh doanh hay bất cứ ý tưởng nào liên quan đến quyền lợi của doanh nghiệp. Và trên thực tế, việc vận dụng SWOT trong xây dựng kế hoạch kinh doanh, hoạch định chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, khảo sát thị trường, phát triển sản phẩm và cả trong các báo cáo nghiên cứu đang ngày càng được nhiều doanh nghiệp lựa chọn. Ý nghĩa của các thành phần: • Điểm mạnh (Strengths): là những tố chất nổi trội xác thực và rõ ràng của doanh nghiệp. Bao gồm: trình độ chuyên môn; các kỹ năng có liên quan, kinh nghiệm công tác; nền tảng giáo dục tốt, có mối quan hệ rộng và vững chắc, có trách nhiệm, sự tận tâm và niềm đam mê công việc, có khă năng phản ứng nhạy bén nhanh đối với công việc.
• Điểm yếu (Weaknesses): cần phải nắm bắt và kiểm soát được các mặt còn hạn chế của doanh nghiệp, như: những tính cách không phù hợp với công việc, những thói quen làm việc tiêu cực, thiếu kinh nghiệm công tác hoặc kinh nghiệm không thích hợp, thiếu sự đào tạo chính quy, bài bản; hạn chế SVTH: Nguyễn Thị Sơn Hà – MSSV: 40662314 Trang 7 Khóa luận tốt nghiệp ngành Kinh tế GVHD: Th.S Tô Thị Kim Hồng về các mối quan hệ, thiếu sự định hướng hay chưa có mục tiêu rõ ràng, kỹ năng nghề nghiệp chưa cao. • Cơ hội (Opportunities): là những sự việc bên ngoài không thể kiểm soát được, chúng có thể là những đòn bẩy tiềm năng mang lại nhiều cơ hội thành công, bao gồm: các xu hướng triển vọng, nền kinh tế phát triển bùng nổ, cơ hội nghề nghiệp mới rộng mở, một dự án đầy hứa hẹn và tiềm năng phát triển, sự xuất hiện của công nghệ mới. • Thách thức (Threats): là những yếu tố gây ra các tác động tiêu cực cho doanh nghiệp. Các nguy cơ hay gặp là: sự cơ cấu và tổ chức lại ngành nghề, những áp lực khi thị trường biến động, sản phẩm trở nên lỗi thời, doang nghiệp không sẵn sàng với phát triển của công nghệ, sự cạnh tranh gay gắt, giữa các đối thủ.
Phân tích tín dụng: a. Khái niệm: Phân tích tín dụng là quá trình đánh giá hạn mức tín ngiệm của một doanh nghiệp thông qua việc phân tích khả năng đảm bảo các nghĩa vụ nợ và khả năng chi trả hóa đơn của doanh nghiệp. Phân tích tín dụng gồm: Theo tác giả Nguyễn Thị Ngọc Trang và Nguyễn Thị Liên Hoa,2008 thì phân tích tín dụng bao gồm: phân tích tính thanh khoản và khả năng trả nợ. Tính thanh khoản: là nói đến khả năng đáp ứng nợ ngắn hạn của công ty.
Khả năng thanh toán là khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt hay khả năng thu được tiền mặt.