Chương 1, ko thể để ngắn như vậy. Nên ghép các phần khác liên quan vào mục nhỏ của nội dung này - Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các báo cáo tài chính; - Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp qua các chỉ tiêu: Khả năng thanh toán, khả năng cân đối vốn, khả năng hoạt động, khả năng sinh lời, hiệu quả sử dụng vốn. Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và nợ phải trả cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh 10 doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
Nói cách khác, báo cáo tài chính là phương tiện trình bày khả năng sinh lời và thực trạng tài chính của doanh nghiệp cho những đối tượng quan tâm. Đánh giá khái quát tình hình tài chính cung cấp cho người sử dụng cái nhìn tổng quan nhất về tài chính doanh nghiệp trong một thời kì nhất định, đó là sự vận động, biến đổi của tổng tài sản, tổng nguồn vốn, là sự tăng giảm của doanh thu, lợi nhuận. Từ đó rút ra được kết luận về những điểm đạt được và những điểm còn hạn chế trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. a/ Phân tích bảng cân đối kế toán: “Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính chủ yếu, phản ánh tổng quát toàn bộ tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định” (Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ, 2015, trang 51) Khi phân tích bảng cân đối kế toán, phân tích những chỉ tiêu sau: Tổng tài sản của doanh nghiệp (TS): TS = TSNH + TSDH Tổng nguồn vốn: Tổng nguồn vốn = VCSH + Nợ phải trả Chỉ tiêu tổng tài sản phản ánh khái quát tình hình về tài sản doanh nghiệp đã huy động vào phục vụ các hoạt động kinh doanh của đơn vị.
Chỉ tiêu Tổng nguồnvốn phản ánh quy mô vốn của các chủ doanh nghiệp. Quy mô vốn càng lớn thì khả năng độc lập tài chính của doanh nghiệp càng cao và là cơ sở để xác định năng lực tài chính hiện có của doanh nghiệp. Ngoài ra, khi phân tích người ta còn chú ý đến các tỷ số nợ. Tỷ số nợ đánh giá mức độ mà công ty tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình bằng vốn vay.
Công ty có tỷ số này cao sẽ có khả năng không trả được nợ. Vì thế khi công ty muốn vay tiền ngân hàng sẽ đánh giá xem công ty có vay quá nhiều hay không để từ đó ra quyết định cho vay. Để biết được mức độ mà 11 công ty tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình bằng vốn vay ta phân tích các tỷ số sau: Chỉ số nợ trên tổng tài sản Nợ phải trả Chỉ số nợ trên tổng tài sản = Tổng tài sản Chỉ số này cho biết có bao nhiêu phần trăm tài sản của doanh nghiệp là từ đi vay. Qua đây biết được khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp.Chỉ số này càng nhỏ, chứng tỏ doanh nghiệp ít phải đi vay vốn để hoạt động, doanh nghiệp có khả năng tự chủ về tài chính nhưng chưa biết huy động vốn bằng hình thức đi vay.
Nếu chỉ số này quá cao, cho biết nguồn vốn của doanh nghiệp sử dụng chủ yếu là nguồn vốn vay, doanh nghiệp chưa có khả năng tự chủ về tài chính. Chỉ số nợ trên vốn chủ sở hữu Chỉ số nợ trên vốn chủ sở hữu = Nợ phải trả/VCSH Chỉ số này cho biết quan hệ giữa vốn đi vay và vốn chủ sở hữu. Chỉ số này nhỏ (<1) chứng tỏ, vốn doanh nghiệp sử dụng chủ yếu là vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp có khả năng tự chủ về tài chính và ít có độ rủi ro về tài chính. Tuy nhiên, nó cũng cho thấy, doanh nghiệp chưa tận dụng cơ hội đi vay để huy động thêm nguồn vốn phục vụ sản xuất kinh doanh.
Đòn bẩy tài chính “ Đòn bẩy tài chính là thể hiện mức độ sử dụng vốn vay trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm hi vọng gia tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu hay thu nhập trên một cổ phần thường của công ty” (Bùi Văn Vần và Vũ Văn Ninh, 2015, trang 364) Đòn bẩy tài chính được thể hiện ở chỉ số nợ. Doanh nghiệp có tỷ trọng nợ phải trả cao hơn tỷ trọng của vốn chủ sở hữu thì đòn bẩy tài chính sẽ rất lớn và ngược lại. 12 Khi doanh nghiệp sử dụng vốn đi vay, đòn bẩy tài chính được đánh giá là sử dụng hiệu quả đó là khi doanh nghiệp tạo ra khoản lợi nhuận trước thuế và lãi vay từ phần vốn đi vay lớn thì sau khi thanh toán phần lãi vay (là phần chi phí tài chính cố định) và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, doanh nghiệp còn có một phần lợi nhuận còn lại. Ngược lại, nếu khoản lợi nhuận được tạo ra đó nhỏ, nó sẽ làm giảm tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu, trường hợp doanh nghiệp bị thua lỗ thì nó càng làm doanh nghiệp lâm vào trạng thái thua lỗ nặng nề hơn.
Nói một cách khác, nếu tỷ suất lợi nhuận trước thuế và lãi vay (BEP) lớn hơn lãi suất khoản vay (r) tức là doanh nghiệp càng sử dụng vốn vay càng gia tăng được tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu. Nếu BEP < r, doanh nghiệp sử dụng vốn vay làm giảm sút tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu, sử dụng đòn bẩy tài chính chưa hiệu quả. Nếu BEP = r, việc sử dụng đòn bẩy tài chính hay không sử dụng đòn bẩy tài chính thì hiệu quả mang lại đều bằng nhau. Hệ số tự tài trợ Hệ số tự tài trợ = Nguồn vốn chủ sở hữu Tổng tài sản Hệ số tự tài trợ là chỉ tiêu phản ảnh khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và mức độ độc lâp̣ vềmăṭtài chinh́‘ của doanh nghiêp̣.
Chỉ tiêu này cho biết trong tổng nguồn vốn tài trơ ̣tài sản doanh nghiêp̣ , nguồn vốn chủsởhữu chiếm bao nhiêu. Chỉ sốnày càng lớn , chứng tỏkhảnăng tư ̣đảm bảo vềmăṭ tài chính càng cao, mức đô ̣đôc̣ lâp̣ càng lớn vàngươc̣ lai.̣ b/ Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh: “Báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh tình hình thu nhập của doanh nghiệp trong một thời kì nhất định. Thời kì đó gọi là thời kỳ kế toán. Tình hình kinh doanh tốt hay xấu, mức độ thu nhập cao hay thấp của công ty trong thời kì đó được phản ánh qua các các chỉ tiêu cụ thể” (Phạm Quang Trung, 2012, trang 55).
13 Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh đồng thời cũng là xem xét sự biến động của từng chỉ tiêu trên phần lãi, lỗ giữa kỳ này so với kỳ trước thông qua việc so sánh số tuyệt đối và số tương đối theo từng chỉ tiêu. Các chỉ tiêu sử dụng khi phân tích báo cáo kết quả kinh doanh là: Tổng doanh thu (DT): DT = Doanh thu + Doanh thu+ Thu nhập thuần bán hàng tài chính khác Chỉ tiêu này phản ánh quy mô giá trị sản phẩm, lao vụ, dịch vụ và các giao dịch khác mà doanh nghiệp đã thực hiện đáp ứng nhu cầu khác nhau của thị trường. Lợi nhuận trƣớc thuế và lãi vay (EBIT): Tổng lợi nhuận EBIT = + Chi phí lãi vay Chỉ tiêu này cho biết quy mô lãi doanh nghiệp tạo ra sau mỗi thời kì hoạt động kinh doanh mà chưa tính bất kì khoản chi phí vốn nào. Lợi nhuận sau thuế (LNST): LNST = Tổng doanh thu – Tổng chi phí LNST = EBIT – Chi phí lãi vay – Chi phí thuế thu nhập Chỉ tiêu này cho biết quy mô lợi nhuận dành cho các chủ sở hữu doanh nghiệp qua mỗi thời kì nhất định.
c/ Phân tích báo cáo lƣu chuyển tiền tệ: Đây là một báo cáo hết sức quan trọng. Dùng để kiểm tra thực trạng lưu chuyển tiền của doanh nghiệp, đánh giá các dự toán trước đây về các luồng tiền, kiểm tra mối quan hệ giữa khả năng sinh lời với lượng lưu chuyển tiền thuần và dự đoán khả năng về độ lớn, thời gian và tốc độ lưu chuyển của các luồng tiền trong tương lai, qua đó cung cấp các thông tin cho chủ thể quản lý. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có ba phần riêng biệt, mỗi phần là một hoạt động đặc thù đó là hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính. 14 Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh: Đây là nguồn cốt yếu sinh ra tiền mặt cho công ty và cũng là lượng tiền mặt mà bản thân công ty kiếm được chứ không phải các khoản vốn đến từ hoạt động đầu tư và tài chính bên ngoài.
Trong phần này của báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thu nhập ròng (trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh) sẽ được điều chỉnh theo các khoản phí không dùng tiền mặt và sự thay đổi của các tài khoản vốn lưu động - tài sản và nợ từ hoạt động trong bảng cân đối kế toán thời điểm hiện tại. Dòng tiền từ hoạt động đầu tƣ: Phần lớn các giao dịch đầu tư đều tạo ra dòng tiền âm (dòng tiền đi ra), chẳng hạn như chi phí vốn cho tài sản, máy móc thiết bị, mua lại doanh nghiệp và mua chứng khoán đầu tư. Còn ngược lại dòng tiền vào đến từ việc bán tài sản, bán công ty và bán chứng khoán đầu tư. Đối với các nhà đầu tư, các mục quan trọng nhất trong phần này là chi phí vốn.
Ta thường giả định rằng chi phí này là một điều cần thiết cơ bản để đảm bảo sự duy trì và bổ sung cho tài sản vật chất của công ty nhằm hỗ trợ hoạt động kinh doanh hiệu quả và tăng khả năng cạnh tranh. Dòng tiền từ hoạt động tài chính: Phần này đề cập đến nợ và các giao dịch vốn chủ sở hữu. Các công ty phải liên tục vay và trả nợ. Việc phát hành chứng khoán ít xảy ra hơn.
Ở đây, một lần nữa, các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư vì mục đích thu nhập thì thứ quan trọng nhất với họ là cổ tức được trả bằng tiền mặt. Và các công ty thường phải trả cho cổ đông cổ tức bằng tiền mặt chứ không phải lợi nhuận. Dòng tiền thuần (NC): phản ánh quan hệ kinh tế của doanh nghiệp với các bên có liên quan thông qua phương tiện giao dịch, trao đổi thực tế bằng tiền.