CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1.1 Lý do chọn đề tài Trong điều kiện kinh tế thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro và có những tác động ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam. Tổng cầu nền kinh tế tăng chậm. Giá dầu thế giới thường xuyên biến động từ đó giá bán lẻ xăng dầu được các doanh nghiệp đầu mối điều chỉnh tăng giảm nhiều lần ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của các công ty kinh doanh xăng dầu. Mặc khác, trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt và khốc liệt, hoạt động không hiệu quả sẽ bị đào thải là không thể tránh khỏi.
Trong điều kiện như vậy, để có thể hoạt động hiệu quả thì việc xem xét tình hình sử dụng vốn được đặt ra như là một nhu cầu cấp thiết. Tình hình phân bổ vốn hợp lý sẽ tạo nên lợi nhuận ngày càng cao, bảo đảm được nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh được linh hoạt. Để thấy được tình trạng sử dụng vốn hiện tại, đồng thời xác định nguyên nhân của những điểm hạn chế qua đó tìm ra biện pháp để cải thiện, đưa ra những dự báo về nguồn vốn, vạch ra chiến lược phân bổ vốn. Xuất phát từ nhu cầu thực tế và nhận thức được tính cần thiết sau một thời gian thực tập tại công ty Cổ phần Thương mại Xuất nhập khẩu Thủ Đức với sự giúp đỡ, định hướng của giảng viên hướng dẫn - cùng các cán bộ công nhân viên công ty, em chọn đề tài:” Phân tích tình hình sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Thương mại Xuất nhập khẩu Thủ Đức( TIMEXCO) trong giai đoạn 2012-2014” nhằm đánh giá được tình hình và hiệu quả sử dụng vốn hiện tại, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Thương mại Xuất nhập khẩu Thủ Đức (TIMEXCO).2 Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá thực trạng, tình hình biến động nguồn vốn và sử dụng vốn của công ty.
- Đánh giá kết quả kinh doanh của công ty trong giai đoạn 2012-2014. - Phân tích cơ cấu vốn của công ty theo hướng kết hợp nợ và vốn chủ sở hữu. 2 - Phân tích rủi ro tài chính cho những quyết định sử dụng đòn bẩy trong cơ cấu vốn của công ty. Phân tích định lượng mối quan hệ giữa mức độ sử dụng nợ trong cấu trúc vốn với từng biểu hiện của rủi ro tài chính.
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm phát huy thế mạnh của công ty cũng như khắc phục các mặt chưa tốt, còn bất hợp lý.3 Phương pháp nghiên cứu Phương pháp thu thập số liệu: thu nhập số liệu tại công ty thông qua các báo cáo tài chính, số liệu tổng hợp của các công ty chứng khoán, tham khảo qua internet, tạp chí… Phương pháp xử lý số liệu: dùng phương pháp so sánh, phân tích ngang, phân tích dọc; các chỉ số tài chính liên hệ với tình hình hoạt động kinh doanh của công ty qua các năm để đánh giá.4 Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu về hoạt động và tình hình sử dụng vốn của công ty trong giai đoạn 2012-2014. Song song với đó tiến hành đánh giá cơ cấu vốn và rủi ro tài chính của công ty và các doanh nghiệp cùng ngành nghề kinh doanh. Từ đó đưa ra sự so sánh và đánh giá. 3 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Một số khái niệm về vốn và hiệu quả sử dụng vốn 2.1 Khái niệm về vốn Muốn tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải có tư liệu lao động, sức lao động.
Đó là những yếu tố cần thiết của bất kỳ nền sản xuất nào. Do vậy, các doanh nghiệp cần tiền để mua tư liệu lao động, trả lương và các chi phí khác.119] Vốn là lượng giá trị doanh nghiệp phải ứng ra để luân chuyển trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất. Bởi vậy ta có thể nói vốn là tiền đề cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.119] Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn của doanh nghiệp luôn vận động và không ngừng thay đổi hình thái tạo thành của trình luân chuyển vốn.2 Vốn lưu động Khái niệm về vốn lưu động Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục. Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị của chúng vào lưu thông và từ trong lưu thông toàn bộ giá trị của chúng được hoàn lại một lần sau một chu kỳ kinh doanh.
[11] Vốn lưu động là tất cả các tài sản ngắn hạn, hay tài sản hiện lưu: tiền, chứng khoán khả mại, hàng tồn kho, khoản phải thu khách hàng.[6] Phân loại vốn lưu động [11] Vốn lưu động và tính chất sử dụng của nó có quan hệ với những chỉ tiêu hoạt động cơ bản của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp sử dụng tiết kiệm, quản lý tốt vốn lưu động thì đạt hiệu quả kinh tế. 4 Để quản lý tốt vốn lưu động, cần phải phân loại. Phân loại tùy thuộc vào tính chất hay mục đích sử dụng, phân loại vốn lưu động: theo vai trò trong quá trình sản xuất, theo hình thái biểu hiện hay nguồn hình thành.
Kết cấu vốn lưu động Kết cấu vốn lưu động phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần vốn lưu động chiếm trong tổng số và tỷ trọng trong mỗi khoản vốn chiếm trong các giai đoạn luân chuyển để từ đó xác định trọng điểm quản lý vốn lưu động. Đối với mỗi doanh nghiệp khác nhau ở từng thời kỳ khác nhau thì câu trúc vốn lưu động cũng khác nhau. Việc phân tích kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn đặc điểm về số vốn lưu động mà mình đang quản lý và sử dụng, từ đó xác định đúng các trọng điểm và có biện pháp quản lý vốn lưu động có hiệu quả, phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp. Thành phần vốn lưu động: Vốn bằng tiền: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển.
Tiền là một loại tài sản của doanh nghiệp mà có thể dễ dàng chuyển đổi thành các loại tài sản khác hoặc để trả nợ. Do vậy, trong hoạt động kinh doanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có một lượng tiền nhất định. Các khoản phải thu: Gồm phải thu khách hàng, trả trước cho người bán, phải thu nội bộ, phải thu khác. Chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng, thể hiện số tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng hóa, dịch vụ hình thức bán trả sau.
Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: Các khoản đầu tư chứng khoán, góp vốn liên doanh và đầu tư tài chính khác có thời hạn dưới một năm. Giá trị này tăng lên chứng tỏ doanh nghiệp mở rộng liên doanh và đầu tư, sự gia tăng này có tích cực hay không thì còn phải xem xét hiệu quả của việc đầu tư. Hàng tồn kho: hàng mua đang đi đường, nguyên vật liệu….Hàng tồn kho tăng do quy mô sản xuất mở rộng,.3 Vốn cố định Khái niệm về vốn cố định: Vốn cố định là số vốn ứng trước về những tư liệu lao động chủ yếu mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần vào từng bộ phận giá trị vào sản phẩm mới cho đến khi nào tư liệu lao động hết thời hạn sử dụng thì vốn cố định hoàn thành một vòng luân chuyển. Đặc điểm của tư liệu lao động là thời gian sử dụng tương đối dài nên có thể tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh sản xuất mà vẫn giữ nguyên được hình thái hiện vật ban đầu( tư liệu lao động hữu hình), trong quá trình sử dụng tư liệu lao động bị hao mòn dần.122] Ngoài ra, một số tài sản của doanh nghiệp mặc dù không có hình thái vật chất cụ thể nhưng do đặc điểm và tính chất nên cũng có thể xếp vào loại tư liệu lao động vô hình như bằng phát minh, sang chế, bản quyền tác giả…[11, tr.122-123] Vốn cố định của doanh nghiệp là giá trị ứng trước về tài sản cố định hiện có của doanh nghiệp.[11] Phân loại vốn cố định: Để quản lý tài sản cố định được chặt chẽ, tạo điều kiền thuận lợi cho công tác kế hoạch, thống kê và phân tích ta tiến hành phân loại tài sản cố định theo: hình thái biểu hiện, công dụng kinh tế, tình hình sử dụng vốn hoặc theo mục đích nghiên cứu.
Dưới đây ta chọn cách phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện. Theo cách này tài sản cố định được chia làm hai loại: Tài sản cố định hữu hình: Là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, trang thiết bị văn phòng.[11] Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản cố định không có hình thái vật chất cụ thể như những khoản chi phí để mua bằng phát minh, sang chế, bản quyền tác giả, chi phí nghiên cứu phát triển, nhãn hiệu thương hiệu,lợi thế thương mại.[11] 6 Phương pháp phân loại này giúp người quản lý thấy rõ toàn bộ cơ cấu đầu tư của doanh nghiệp để có những quyết định đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp. Kết cấu tài sản cố định Là tỷ trọng giữa nguyên giá tài sản cố định so với tổng nguyên giá tài sản cố định của doanh nghiệp. Trong các ngành kinh tế khác nhau thì kết cấu tài sản cố định cũng khác nhau.
Đối với những doanh nghiệp kinh doanh trong cùng ngành thì kết cấu tài sản cố định cũng không giống nhau. Kết cấu tài sản cố định do ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: Tính chất sản xuất và đặc điểm của quy trình công nghệ; trình độ trang thiết bị kỹ thuật; đặc điểm tổ chức sản xuất.125] Việc bố trí kết cấu tài sản cố định hợp lý là một trong những điều kiện quan trọng để tăng doanh thu bán hàng, tăng năng suất lao động, năng lực phục vụ. Vì vậy, doanh nghiệp phải tận dụng những trang thiết bị có sẵn và căn cứ vào nhu cầu thực tế, để không ngừng tăng thêm một các hợp lý tài sản cố định nhằm bảo đảm thực hiện tốt mục đích kinh doanh sản xuất.126] Thành phần tài sản cố định và đầu tư dài hạn bao gồm: Tài sản cố định: tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình. Tài sản cố định tăng về số tuyệt đối lẫn tỷ trọng sử dụng đều được đánh giá là tích cực khi sử dụng tối đa công suất của nó.