CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Các khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm tài nguyên rừng Theo luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 thì Rừng được xem là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng [11]. Rừng cũng là một loại tài nguyên thiên nhiên nhưng nó lại có những đặc thù riêng, do đó cần phải xem xét rừng dưới các khía cạnh sau: Rừng là nguồn tài nguyên sinh vật tái tạo được, có khả năng cung cấp lâm sản cần thiết cho đời sống con người như: tinh dầu, dầu nhựa, dầu béo, nhựa mủ, lương thực, thực phẩm, chất màu, chất béo, thuộc da, chất chát, nhiều loại dược liệu quý…Tất cả các tính năng vốn có của rừng đã làm cho rừng gắn bó mật thiết với sự phát triển kinh tế - xã hội [11]. Rừng, nếu hiểu đúng bản chất thì nó là nơi tập trung của cả động - thực vật và vi sinh vật, là một bộ phận không thể thiếu của môi trường sống của con người, đem lại sự cân bằng sinh thái trong tự nhiên, hạn chế các tác hại do sa mạc hoá gây ra, điều hoà khí hậu, điều tiết chế độ nước, bảo vệ mùa màng, nâng cao năng suất cây trồng… * Phân loại rừng Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, rừng được phân thành ba loại sau đây [11]: 1.
Rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: a) Rừng phòng hộ đầu nguồn; b) Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; c) Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển; d) Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường; 5 2. Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: a) Vườn quốc gia; b) Khu bảo tồn thiên nhiên bao gồm khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh; c) Khu bảo vệ cảnh quan gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; d) Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học; 3. Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: a) Rừng sản xuất là rừng tự nhiên; b) Rừng sản xuất là rừng trồng; c) Rừng giống gồm rừng trồng và rừng tự nhiên qua bình tuyển, công nhận.2 Khái niệm về sản phẩm từ rừng * Gỗ: là vật liệu thiên nhiên được sử dụng khá rộng rãi trong xây dựng và trong sinh hoạt vì những ưu điểm cơ bản sau: nhẹ, có cường độ khá cao, cách âm, cách nhiệt và cách điện điện tốt; dể gia công (cưa, xẻ, bào, khoan…), vân gỗ có giá trị mỹ thuật cao. Ở nước ta, gỗ là vật liệu rất phổ biến.
Rừng Việt Nam có nhiều loại gỗ tốt và quý vào bậc nhất thế giới. Khu Tây Bắc có nhiều rừng già và có nhiều loại gỗ quý như: trai, đinh, lim, lát, mun, pơmu. Rừng Việt Bắc có lim, nghiến, vàng tâm. Rừng Tây Nguyên có cẩm lai, hương… * Lâm sản ngoài gỗ (LSNG): Hội nghị lâm nghiệp do Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc triệu tập tháng 6 năm 1999 đã đưa ra và thông qua một khái niệm và định nghĩa về LSNG: “Lâm sản ngoài gỗ (Non timber forest product) bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có cây rừng (wooded lands) và cây ở 6 ngoài rừng”.
Thuật ngữ này phải dịch sang Tiếng Việt là “Lâm sản ngoài gỗ cây”, nhưng để đơn giản vẫn dùng thuật ngữ lâm sản ngoài gỗ (LSNG). Với định nghĩa này, LSNG bao gồm cả động vật, gỗ nhỏ và củi và rộng hơn so với định nghĩa trước. Trong tài liệu sách báo nước ngoài, hiện tại cả hai thuật ngữ NWFP và NTFP vẫn được dùng [2]. Lâm sản ngoài gỗ (non-timber forest product): bao gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ, được khai thác từ rừng để phục vụ con người.
Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa,nhựa mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hoặc các sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô như tre, nứa, mây, song, gỗ nhỏ và sợi (JennH. Phân nhóm LSNG theo công dụng: Trên thế giới cũng đã có nhiều khung phân loại LSNG được đề xuất. Có khung phân loại dựa vào dạng sống của cây tạo ra các sản phẩm như nhóm cây gỗ, cây bụi, cây thảo, dây leo gỗ, dây leo thảo. Có khung phân loại dựa vào công dụng và nguồn gốc của các LSNG, như khung phân loại được thông qua trong Hội nghị tháng 11/1991 tại Băng Cốc.
Trong khung này, LSNG được chia làm 6 nhóm: - Các sản phẩm có sợi: Tre nứa, song mây, lá, thân có sợi và các loại cỏ. - Sản phẩm làm thực phẩm: + Các sản phẩm nguồn gốc thực vật: thân, chồi, rễ, củ, lá, hoa, quả, quả hạch, gia vị, hạt có dầu và nấm. + Các sản phẩm nguồn gốc động vật: mật ong, thịt động vật rừng, cá, trai ốc, tổ chim ăn được, trứng và côn trùng. - Thuốc và mỹ phẩm có nguồn gốc thực vật.
- Các sản phẩm chiết xuất: gôm, nhựa, nhựa dầu, nhựa mủ, tamin và thuốc nhuộm, dầu bó và tinh dầu. - Động vật và các sản phẩm từ động vật không làm thực phẩm: tơ tằm, động vật sống, chim, côn trùng, lông mao, lông vũ, da, sừng, ngà, xương và nhựa cánh kiến đỏ. 7 - Các sản phẩm khác: như lá Bidi (lá thị rừng dùng gói thuốc lá ở Ấn Độ) [2]. Phân loại LSNG theo giá trị sử dụng như sau: - Nhóm LSNG dùng làm nguyên liệu công nghiệp.
- Nhóm LSNG dùng làm vật liệu thủ công mỹ nghệ. - Nhóm LSNG dùng làm lương thực, thực phẩm và chăn nuôi. - Nhóm LSNG dùng làm dược liệu. - Nhóm LSNG dùng làm cảnh.
LSNG đa dạng về giá trị sử dụng do đó nó có vai trò quan trọng đối với đời sống xã hội: + LSNG có tầm quan trọng về kinh tế và xã hội. Chúng có giá trị lớn và có thể tạo ra nhiều công ăn việc làm. + LSNG có giá trị đối với sự giàu có của hệ sinh thái rừng. Chúng đóng góp vào sự đa dạng sinh học của rừng.
Chúng là nguồn gen hoang dã quý, có thể bảo tồn phục vụ gây trồng công nghiệp. + LSNG hiện bị cạn kiệt cùng với sự suy thoái của rừng bởi ảnh hưởng của sự tăng dân số, mở rộng canh tác nông nghiệp, chăn thả gia súc không kiểm soát, khai thác gỗ, thu hái chất đốt.3 Khái niệm về tái định cư và tái định cư do thủy điện a. Tái định cư (TĐC) Tái định cư là việc phải di chuyển đến một nơi khác để sinh sống, đây là thuật ngữ chung liên quan tới bị thu hồi đất, mất đất, mất chỗ ở, mất tài sản, mất nguồn thu nhập hay mất những phương tiện kiếm sống khác. Theo khái niệm của Ngân hàng Phát triển Châu Á (1995), tái định cư được phân loại dựa trên thiệt hại của người tái định cư [7]: - Thiệt hại về tài sản sản xuất, bao gồm đất đai, thu nhập và đời sống.
- Thiệt hại về nhà ở, có thể là toàn bộ cộng đồng và các hệ thống, dịch vụ kèm theo. - Thiệt hại về các tài sản khác. - Thiệt hại về các nguồn tài nguyên của cộng đồng như môi trường sinh sống, văn hóa và hàng hóa. 8 Ngoài ra, tái định cư còn được định nghĩa là quá trình trong đó con người tự nguyện hay bị tác động, di chuyển từ địa bàn cư trú này sang địa bàn cư trú khác trong một khoảng thời gian nhất định, có thể là tạm thời hay vĩnh viễn.
TĐC là quá trình di chuyển và thay đổi cuộc sống của con người, không chỉ là quá trình chuyển dịch vật chất mà còn là quá trình cắt bỏ các quan hệ cũ và tạo lập các quan hệ mới. TĐC đã làm thay đổi các mối quan hệ giữa mỗi người với môi trường xã hội xung quanh, với các quan hệ chính như: công ăn việc làm, chỗ ở, nơi học hành, điều kiện đi lại và sự tiếp cận các dịch vụ, quan hệ láng giềng,. Đặc biệt, quá trình TĐC còn tác động và gây ra những biến đổi trong quan hệ cộng đồng, quan hệ dòng họ, quan hệ tộc người và liên quan đến nhiều vấn đề văn hóa, xã hội như giáo dục, y tế, phong tục tập quán,. Các hình thức tái định cư: Cho đến nay, việc di dân TĐC của các công trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung, đặc biệt là di dân ở các công trình xây dựng nhà máy thủy điện nói riêng được thực hiện theo 4 hình thức là: Di vén, di vén xen ghép, di dân tập trung và di dân tự chọn (tự di chuyển) [4].
- Hình thức di vén: Là quá trình di dân tại chỗ, đôi khi mang tính tự phát của người dân vùng ngập lụt, theo mức nước dâng mà họ di chuyển dần lên nơi cao hơn. Hình thức TĐC này là trường hợp bố trí địa bàn TĐC thuận lợi về quy mô diện tích, nguồn nước sinh hoạt, đất sản xuất, đáp ứng nhu cầu cho khối dân cư phải di chuyển từ lòng hồ lên vị trí cao hơn và không bị ngập lụt, nhưng vẫn ở xung quanh hồ chứa. Trường hợp này ít bị thay đổi về điểm ngụ cư và khoảng cách giữa nơi ở cũ và nơi ở mới không xa. Do đó một phần diện tích đất không bị ngập hoặc bán ngập có khả năng sản xuất thuộc quyền sở hữu của họ, tránh được sự tranh chấp về đất đai.
Tuy nhiên hình thức di dân này còn có những hạn chế là dân cư sống phân tán, khó đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng [4]. - Hình thức di vén xen ghép: Là hình thức di dân vùng lòng hồ lên sinh sống chung với người dân địa phương trong xã hay khác xã. Hình thức này tạo sự đoàn kết giữa người dân di cư và người dân sở tại.