Tổng quan nghiên cứu

Dự án thủy điện A Lưới với công suất thiết kế 170 MW, tổng mức vốn đầu tư 3.234 tỷ đồng và sản lượng điện bình quân hàng năm đạt 686,5 triệu kWh là công trình năng lượng trọng điểm tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên, việc xây dựng lòng hồ và các hạng mục phụ trợ đã chiếm dụng trực tiếp 1.890 ha đất tự nhiên thuộc phạm vi 7 xã của huyện A Lưới, làm thay đổi toàn bộ không gian sinh tồn của các cộng đồng dân tộc thiểu số bản địa như Pa Cô, Tà Ôi, Ka Tu. Trong số 205 hộ gia đình bị thu hồi đất hoàn toàn, 106 hộ được đưa về định cư tại thôn Cân Tôm 2 thuộc xã Hồng Thượng từ năm 2010, nâng tổng quy mô khu dân cư này lên 146 hộ với 540 nhân khẩu.

Sau hơn 3 năm chuyển đến nơi ở mới, người dân Cân Tôm 2 vẫn chưa thể ổn định đời sống do sự đứt gãy nghiêm trọng về tư liệu sản xuất. Dù tỷ lệ lao động làm nông nghiệp chiếm tới 98%, người dân chỉ được phân chia khoảng 12 ha đất gieo cấy lúa nước cằn cỗi lẫn nhiều cuội sỏi với năng suất rất thấp. Hệ quả là có tới 95% số hộ dân trong thôn phải tiếp tục duy trì sinh kế bằng cách vào rừng chặt phá đất canh tác nương rẫy và khai thác lâm sản ngoài gỗ trái phép, gây áp lực trực tiếp lên hệ sinh thái rừng nhiệt đới địa phương.

Đề tài được thực hiện nhằm phân tích toàn diện hiện trạng sinh kế, mức độ phụ thuộc và các hoạt động khai thác tài nguyên rừng của người dân khu tái định cư Cân Tôm 2 trong giai đoạn 2010 - 2014. Không gian nghiên cứu tập trung tại thôn Cân Tôm 2, xã Hồng Thượng trong khung thời gian từ tháng 4/2014 đến tháng 12/2014. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng, cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng phục vụ công tác quy hoạch giao đất lâm nghiệp, phục hồi sinh kế bền vững và giảm thiểu xung đột môi trường tại các vùng di dân thủy điện miền núi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng khung lý thuyết sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID), tập trung phân tích 5 nguồn vốn sinh kế: tự nhiên (đất đai, rừng với 2.768,40 ha tại xã Hồng Thượng), vật chất (hạ tầng, giao thông, thủy lợi), tài chính (tiền đền bù, thu nhập hộ), con người (kỹ năng canh tác, tỷ lệ lao động trong độ tuổi đạt 45%) và xã hội (mạng lưới dòng tộc, tính cố kết cộng đồng). Đồng thời, đề tài kết hợp lý thuyết tái định cư bắt buộc theo chuẩn của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) nhằm đánh giá các tổn thất về tư liệu sản xuất và văn hóa bản địa khi người dân phải di dời khỏi vùng lòng hồ.

Hệ thống khái niệm nền tảng trong luận văn bao gồm:

  • Tài nguyên rừng: Được quy định theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, phân định rõ theo ba chức năng gồm rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất.
  • Lâm sản ngoài gỗ: Chuẩn hóa theo định nghĩa của Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc (FAO 1999), bao gồm các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật ngoài gỗ như mây, tre nứa, măng rừng, lá nón, củi đốt, mật ong và dược liệu.
  • Sinh kế hộ gia đình: Toàn bộ nguồn lực, tài sản và các hoạt động kiếm sống nhằm bảo đảm an ninh lương thực và phúc lợi bền vững.
  • Chuẩn nghèo nông thôn: Căn cứ theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ giai đoạn 2011 - 2015 với mức thu nhập từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống.

Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên phương pháp tiếp cận hệ thống, phân tích mối quan hệ tác động qua lại giữa các cú sốc tái định cư, sự thiếu hụt đất sản xuất và áp lực khai thác tài nguyên rừng tự nhiên.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập có chọn lọc trong giai đoạn 5 năm (2010 - 2014) từ UBND xã Hồng Thượng, Hạt Kiểm lâm huyện A Lưới, Ban Quản lý rừng phòng hộ A Lưới và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế, tập trung vào số liệu diễn biến rừng, biến động diện tích đất canh tác và hồ sơ bồi thường tái định cư.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua các công cụ Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA). Nghiên cứu thực hiện quan sát thực địa toàn bộ địa bàn 209,9 ha của thôn Cân Tôm 2, tổ chức 1 cuộc thảo luận nhóm tập trung với 25 đến 30 người dân (trong đó tỷ lệ phụ nữ chiếm từ 30% đến 50%) và phỏng vấn sâu các cán bộ địa chính, kiểm lâm, già làng và trưởng thôn.

Quy mô mẫu khảo sát định lượng gồm 50 hộ gia đình. Phương pháp chọn mẫu là ngẫu nhiên đơn dựa trên danh sách hộ dân đã được sàng lọc phối hợp cùng Bí thư chi bộ thôn Cân Tôm 2, tập trung vào nhóm 95% hộ gia đình có sinh kế gắn liền với hoạt động khai thác rừng.

Phương pháp thống kê mô tả được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác cơ cấu thu nhập, mức độ đền bù và sản lượng lâm sản khai thác. Đồng thời, ma trận SWOT được áp dụng để phân tích logic các điểm mạnh, điểm yếu nội tại của cộng đồng cùng các cơ hội và thách thức từ môi trường thể chế bên ngoài. Toàn bộ số liệu sơ cấp được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel và phần mềm SPSS phiên bản 16.0 trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 12 năm 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tổng diện tích đất có rừng toàn huyện A Lưới năm 2014 đạt 99.402,03 ha, chiếm độ che phủ 79,37%. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2010 - 2014, diện tích đất có rừng đã suy giảm 385,07 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên bị mất đi là 258,87 ha. Riêng quá trình giải phóng mặt bằng phục vụ công trình thủy điện A Lưới đã chuyển đổi trực tiếp gần 200 ha rừng tự nhiên và 282 ha rừng trồng.

Tại khu tái định cư Cân Tôm 2, người dân rơi vào khủng hoảng tư liệu sản xuất nghiêm trọng. Mặc dù diện tích đất nông nghiệp của thôn theo quy hoạch là 35,3 ha, nhưng thực tế diện tích gieo cấy lúa nước 2 vụ chỉ có hơn 5 ha nằm trên vùng đất bồi cuội sỏi với tầng đất mặt mỏng chưa đầy 5 cm. Thêm vào đó, mặt bằng đất ở 1.000 m2 mỗi hộ chỉ được san lấp khoảng 150 m2 để làm nền nhà, phần diện tích vườn đồi còn lại gồ ghề, nhiều hố sâu nguy hiểm và không thể cải tạo để trồng trọt.

Áp lực sinh kế đã dẫn tới tình trạng phá rừng làm nương rẫy gia tăng. Thống kê của cơ quan chức năng năm 2013 ghi nhận 38 vụ phá rừng trái phép với tổng diện tích 15,72 ha trên địa bàn huyện, trong đó đã xử phạt hành chính 12 trường hợp vi phạm trên diện tích 3,4788 ha với số tiền phạt 66,8 triệu đồng; phần lớn các điểm phá rừng tập trung tại vùng giáp ranh thôn Cân Tôm 2.

Khoảng 95% hộ dân Cân Tôm 2 thường xuyên khai thác tài nguyên rừng để mưu sinh. Các sản phẩm chính gồm lâm sản ngoài gỗ như lá nón, mây non, mật ong rừng, củi đốt và các loại gỗ nhóm 3 đến nhóm 6 (như gỗ Lục, Dẻ) dùng để dựng nhà. Các loài gỗ quý nhóm 1 và nhóm 2 như Lim, Kiền Kiền, Gõ cùng các loài động vật hoang dã lớn như heo rừng, nai gần như đã tuyệt chủng hoặc chỉ còn số lượng rất ít trong rừng sâu.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của tình trạng suy thoái tài nguyên rừng xuất phát từ sự đứt gãy giữa chính sách giải tỏa mặt bằng và việc tổ chức lại sản xuất cho đồng bào. Người dân bị thu hồi đất ruộng màu mỡ ven sông A Sáp nhưng nơi ở mới lại có chất lượng đất cằn cỗi, hệ thống kênh mương thủy lợi hư hỏng không thể dẫn nước và thiếu hụt các chương trình khuyến nông hỗ trợ chuyển đổi cây trồng. Tình trạng chậm trễ trong việc bàn giao 85,2 ha đất lâm nghiệp của thôn do tranh chấp đất đai giữa chủ cũ và dân tái định cư càng đẩy người dân vào thế bế tắc kinh tế, buộc họ phải quay lại rừng cũ phát rẫy hoặc khai thác lâm sản trái phép.

So sánh với các bài học kinh nghiệm từ các dự án thủy điện lớn như Hòa Bình và Sơn La, kết quả nghiên cứu tại Cân Tôm 2 tái khẳng định quy luật: tái định cư tập trung nếu chỉ chú trọng vào xây dựng nhà ở mà không bảo đảm phương châm "đất đổi đất" có chất lượng tương đương sẽ dẫn đến suy giảm sinh kế và phá vỡ cấu trúc cân bằng sinh thái.

Các phát hiện nghiên cứu này có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ hình cột so sánh cơ cấu thu nhập của hộ gia đình trước và sau tái định cư (phản ánh sự sụt giảm nguồn thu từ lúa nước và sự gia tăng tỷ trọng thu nhập bấp bênh từ lâm sản), kết hợp cùng bảng thống kê diễn biến diện tích các loại rừng giai đoạn 2010 - 2014 và ma trận phân tích SWOT về quản lý tài nguyên rừng của địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thành công tác giao đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ủy ban nhân dân huyện A Lưới chủ trì, phối hợp với UBND xã Hồng Thượng xử lý dứt điểm các tranh chấp ranh giới để bàn giao 100% diện tích 85,2 ha đất rừng sản xuất cho 146 hộ dân Cân Tôm 2 trước quý 2 năm 2015, đảm bảo định mức mỗi hộ có từ 0,5 đến 1,5 ha đất trồng keo lai và tràm để tự chủ kinh tế.

Thứ hai, cải tạo mặt bằng canh tác và khôi phục hạ tầng thủy lợi nội đồng. Công ty Cổ phần Thủy điện Miền Trung phối hợp với Phòng Nông nghiệp huyện đầu tư kinh phí đào bốc sỏi đá, bổ sung tầng đất màu và nâng cấp toàn bộ hệ thống kênh mương cho hơn 5 ha đất lúa nước trong thời gian 6 tháng, đảm bảo trên 85% diện tích có đủ nước tưới tiêu chủ động 2 vụ.

Thứ ba, triển khai các mô hình sinh kế nông lâm kết hợp và đào tạo nghề. Trung tâm Khuyến nông huyện tổ chức 3 khóa đào tạo kỹ thuật thâm canh cao su, keo lai và chăn nuôi bò có kiểm soát dịch bệnh cho tối thiểu 120 lao động (chiếm trên 80% lao động trong độ tuổi) trong giai đoạn 2015 - 2016, hỗ trợ giống cây trồng đạt chuẩn nhằm nâng thu nhập bình quân hộ gia đình lên 20% đến 30%.

Thứ tư, thiết lập cơ chế đồng quản lý rừng và chi trả dịch vụ môi trường rừng. Hạt Kiểm lâm huyện A Lưới phối hợp cùng Ban Quản lý rừng phòng hộ và cộng đồng thôn Cân Tôm 2 thành lập 2 tổ tự quản bảo vệ rừng, tổ chức tuần tra định kỳ 4 lần mỗi tháng, trích tối thiểu 15% tiền dịch vụ môi trường rừng chi trả trực tiếp cho các hộ nhận khoán, cam kết triệt tiêu 100% các vụ phá rừng làm nương rẫy mới từ năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và ban ngành địa phương: UBND huyện A Lưới, Chi cục Kiểm lâm và Phòng Tài nguyên và Môi trường có thể ứng dụng các số liệu thực chứng để điều chỉnh chính sách bồi thường, tháo gỡ vướng mắc giao đất rừng và xây dựng quy chế quản lý bảo vệ rừng tại các xã vùng đệm.
  • Chủ đầu tư các dự án thủy điện và đơn vị tư vấn môi trường: Các kỹ sư và chuyên gia đánh giá tác động môi trường - xã hội (ESIA) có thể khai thác các bài học về khảo sát thổ nhưỡng, san nền và hoàn thiện hạ tầng thủy lợi nhằm tránh lặp lại các sai sót gây lãng phí nguồn vốn đầu tư.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Giới học thuật thuộc các chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Phát triển Bền vững có thể sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về ứng dụng phương pháp sinh kế bền vững kết hợp PRA và phân tích SWOT.
  • Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan phát triển quốc tế: Các chuyên viên dự án có thể sử dụng dữ liệu cơ sở về nhu cầu thực tế của đồng bào dân tộc thiểu số để thiết kế các dự án viện trợ sinh kế nông nghiệp thích ứng và bảo tồn tri thức bản địa.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao người dân tái định cư Cân Tôm 2 lại gia tăng khai thác tài nguyên rừng trái phép sau khi di dời? Nguyên nhân trực tiếp là do người dân bị mất đất sản xuất màu mỡ cũ trong khi nơi ở mới chỉ có hơn 5 ha đất lúa nước đầy sỏi đá với tầng đất dày dưới 5 cm. Với 98% hộ làm nông nghiệp và thiếu việc làm thay thế, 95% số hộ buộc phải vào rừng khai thác lâm sản và phát rẫy để duy trì lương thực hàng ngày.

Dự án thủy điện A Lưới tác động đến diện tích rừng tự nhiên của địa phương như thế nào? Công trình thủy điện A Lưới đã chiếm dụng trực tiếp gần 200 ha rừng tự nhiên và 282 ha rừng trồng để làm lòng hồ. Ngoài ra, sự thiếu hụt đất sản xuất sau di dân đã tạo áp lực gián tiếp, dẫn đến 38 vụ phá rừng làm nương rẫy với diện tích 15,72 ha bị tàn phá trên địa bàn huyện trong năm 2013.

Những trở ngại lớn nhất trong sản xuất nông nghiệp tại khu tái định cư là gì? Các rào cản chính gồm có đất đai đồi núi dốc bị rửa trôi bạc màu; hệ thống kênh mương thủy lợi bị hư hỏng không dẫn được nước tưới; nguồn nước sinh hoạt thiếu thốn khiến người dân phải đi bộ 5 đến 10 km để lấy nước khe; cùng với đó là dịch bệnh gia súc xảy ra thường xuyên.

Các loại lâm sản nào bị khai thác nhiều nhất và mức độ suy giảm ra sao? Người dân chủ yếu khai thác gỗ nhóm 3 đến nhóm 6 (như gỗ Lục, Dẻ) để làm nhà, cùng lâm sản ngoài gỗ như mây non, lá nón, củi đốt và mật ong. Các loài gỗ quý như Lim, Kiền Kiền, Gõ và động vật hoang dã lớn gần như đã cạn kiệt, chỉ còn cá thể nhỏ ở rừng sâu.

Mô hình giải pháp nào được đánh giá là hiệu quả và bền vững nhất cho cộng đồng? Mô hình giao dứt điểm 85,2 ha đất lâm nghiệp cho hộ gia đình kết hợp trồng rừng kinh tế keo lai, cải tạo tầng đất 5 ha lúa nước và chi trả tiền khoán bảo vệ rừng. Giải pháp này giúp tăng thu nhập hộ từ 20% đến 30% và giải quyết triệt để xung đột tài nguyên.

Kết luận

  • Dự án thủy điện A Lưới làm thay đổi hoàn toàn môi trường sống của 146 hộ dân Cân Tôm 2 nhưng bộc lộ nhiều bất cập về quỹ đất canh tác chất lượng cao.
  • Tầng đất sản xuất mỏng dưới 5 cm cùng hạ tầng thủy lợi hư hỏng là nguyên nhân cốt lõi khiến 95% số hộ dân phải dựa vào việc khai thác rừng tự nhiên để sinh tồn.
  • Diện tích rừng tự nhiên toàn huyện suy giảm 258,87 ha trong 5 năm do tác động cộng hưởng từ việc xây dựng lòng hồ và 38 vụ phá rừng làm nương rẫy trong năm 2013.
  • Nhu cầu cấp bách đặt ra là phải giải quyết dứt điểm các tranh chấp và hoàn thành giao 85,2 ha đất rừng sản xuất cho các hộ dân tự chủ kinh tế.
  • Chuyển đổi sinh kế nông lâm kết hợp gắn với cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng là hướng đi duy nhất để bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững.

Luận văn đã đóng góp một hệ thống cứ liệu thực chứng có giá trị khoa học cao, làm rõ mối liên hệ hữu cơ giữa sự suy giảm sinh kế tái định cư và áp lực tàn phá tài nguyên rừng miền núi. Để giải quyết dứt điểm các tồn tại, chính quyền địa phương và chủ đầu tư cần khẩn trương hoàn thành việc giao đất rừng trong quý 2 năm 2015 và phục hồi hệ thống thủy lợi trước mùa mưa. Các cơ quan quản lý và các bên liên quan hãy cùng chung tay hành động để bảo vệ màu xanh của đại ngàn A Lưới và nâng cao chất lượng sống cho đồng bào tái định cư.