Chương I CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1.Kinh tế nông hộ Kinh tế nông hộ(KTNH): là hình thức kinh tế nền tảng để phát triển sản xuất hàng hóa. Kiểu sản xuất KTNH đòi hỏi một kiểu tổ chức kinh tế gắn bó người lao động với đối tượng sản xuất trong suốt quá trình sản xuất. KTNH là hình thức kinh tế lấy gia đình nông dân làm đơn vị sản xuất. Năm 1988, Bộ Chính trị ra NQ10 - 1988 công nhận kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất.
KTNH thường bất lực trước những biến động của thị trường, khả năng hạn chế trong ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, là sự thiếu thốn về vốn liếng, tư liệu sản xuất. Điều đó tất yếu đòi hỏi nông dân phải hợp tác lại tạo ra kinh tế hợp tác xã (KT HTX), thông qua đó KTNH hoạt động hòa nhập vào kinh tế xã hội(kinh tế thị trường)(TS Nguyễn Thanh Vân, 1993).Lý thuyết sản xuất nông nghiệp Lý thuyết sản xuất sản xuất hay còn gọi lý thuyết hành vi của người sản xuất(nông trại, nông hộ, doanh nghiệp…)ứng dụng khoa học kinh tế vào sản xuất nông nghiệp. Lý thuyết sản xuất cung cấp những nguyên lý để hướng dẫn các đơn vị sản xuất(nông trại, nông hộ, doanh nghiệp) trong việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm tối đa hóa lợi nhuận 44 Sản xuất là một quá trình, thông qua nó, các nguồn lực hoặc đầu vào của sản xuất được sử dụng để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng có thể dùng được. Các đầu vào như đất đai, phân bón, giống, nông dược, lao động, máy móc và trang thiết bị nông nghiệp Một cách cơ bản, lý thuyết sản xuất nông nghiệp nghiên cứu bản chất mối liên hệ nhân quả giữa các yếu tố đầu vào và kết quả về sản phẩm thu được.
Mối liên hệ này thường được diễn tả thông qua hàm sản xuất. Chẳng hạn như, sản phẩm Y là một hàm sản xuất với các yếu tố đầu vào(X1, X2, X3…Xn) Y=f(X1, X2, X3,…, Xn) Nếu chúng ta chỉ xem xét sự thay đổi của một yếu tố đầu vào(chẳng hạn như X1)ảnh hưởng như thế nào đối với Y(những yếu tố đầu vào khác được giả định không đổi) thì phương trình(1) sẽ là: Y=f(X1, X2, X3, …Xn) Trong nền kinh tế thị trường, người sản xuất phải đương đầu với việc lựa chọn các kỹ thuật mới và các mô hình sản xuất đem lại hiệu quả cao nhất cho mình. Những thông tin từ cán bộ khuyến nông, nhà khoa học, kinh nghiệm từ các nông hộ, các doanh nghiệp gợi ý cho nông hộ nên áp dụng các kỹ thuật như giống mới, diệt trừ cỏ dại bằng các hóa chất, liều lượng phân bón cần thiết nên sử dụng, làm đất bằng cơ giới hóa…nhằm đạt năng suất tối đa và hạn chế thấp nhất đến việc ô nhiễm môi trường canh tác của nông hộ. Tuy vậy Wharton C.(1971) đã đưa ra 6 nguyên nhân chính giải thích lý do tại sao nông hộ không sẵn lòng áp dụng kỹ thuật mới như sau: (i) Không biết hoặc không hiểu về kỹ thuật mới,(ii) không đủ năng lực để thực hiện, (iii)Không được chấp nhận về mặt tâm lý, văn hóa và xã hội, (iv) không được thích nghi, (v) không khả thi về kinh tế, (vi) không có sẵn điều kiện để áp dụng.
Rogers(1971) mô tả sự áp dụng kỹ thuật mới bởi nông hộ như là một quá trình 5 giai đoạn(Sơ đồ 1. Để có thể áp dụng kỹ thuật mới, đầu tiên nông dân phải biết hoặc hiểu được kỹ thuật đó(có thể hiểu qua chương trình phổ biến kỹ thuật trên radio, truyền hình, cán bộ khuyến nông, sinh hoạt câu lạc bộ hoặc láng giềng…). Quá trình được tiếp 44 tục nông hộ thực sự quan tâm đến nó(họ thấy rằng kỹ thuật đó cần thiết và bắt đầu tìm hiểu những thông tin chi tiết hơn về kỹ thuật đó). Khi đã quan tâm, nông dân sẽ bắt đầu tính toán lợi ích đem lại và chi phí bỏ ra theo cách tính của họ(giá yếu tố đầu vào thay đổi là bao nhiêu, mua ở đâu, trừ chi phí ra, thu nhập có tăng hơn không?) Khi lợi ích đem lại cao hơn chi phí, họ sẽ tiếp tục qua giai đoạn tiếp theo là làm thử(chỉ tiến hành áp dụng kỹ thuật mới trên một diện tích đất nhỏ so với diện tích đất sản xuất mà họ có).
Nếu kết quả thành công, họ mới thật sự áp dụng trên toàn bộ diện tích.Quá trình áp dụng một kỹ thuật mới BIẾT QUAN TÂM ĐÁNH GIÁ 1.Phân tích lợi ích-chi phí 2.Xu hướng rủi ro THỬ ÁP DỤNG Hầu hết các lý thuyết kinh tế và thực tiển cho thấy rằng nông dân sẽ nhanh chóng áp dụng kỹ thuật mới một khi họ hiểu rằng có một ít rủi ro sẽ xuất hiện liên quan đến kỹ thuật mới(so với kỹ thuật cũ) và lợi ích nhận được từ việc áp dụng kỹ thuật mới. Do đó vấn đề cốt lõi để phổ biến kỹ thuật mới và ứng dụng rộng rãi bởi nông hộ là: làm cách nào giúp cho nông hộ, tự chính họ thấy được rủi ro-lợi ích đem lại; kinh nghiệm sản xuất lâu năm và kết hợp với áp dụng hiệu quả khoa học kỹ thuật mới nông dân sẽ có nguồn vốn kinh nghiệm.Marketing nông sản Trong nền kinh tế thị trường, việc nông hộ quyết định có thay đổi kỹ thuật sản xuất hay không, thì yếu tố thị trường cũng đóng một vai trò khá quan trọng.Thị trường nông sản 44 Thị trường nông sản(trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm sản và sản xuất muối)gồm thị trường của các yếu tố đầu vào cho sản xuất, như tư liệu sản xuất, vốn và lao động và thị trường đầu ra của sản phẩm nông nghiệp(gọi tắt là thị trường nông sản). Vậy khái niệm thị trường nông sản là một quá trình dieãn ra giữa người bán và người mua gặp nhau để trao đổi hay thỏa thuận về số lượng, chất lượng, giá cả của hàng hóa nông sản. Khi sản xuất hàng hóa ra đời và phát triển thì thị trường cũng ra đời và phát triển theo.
Với mục đích của sản xuất hàng hóa là để bán kiếm nhiều lời, nên khâu tiêu thụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thị trừơng xuất hiện đồng thời cũng làm xuất hiện nhiều mối quan hệ kinh tế, trong đó có: -Quan hệ giữa người bán và người mua: Người bán rất cần người mua, người mua cũng rất cần người bán nhưng đây là quan hệ mâu thuẩn. Xuất phát từ lợi ích kinh tế, người bán luôn muốn bán được nhiều hàng hóa với giá cao, hoặc rất cao để có nhiều lời; ngược lại người mua chỉ muốn mua với giá phù hợp với túi tiền của mình hoặc với giá thấp để mua được nhiều hàng. Đây chính là mâu thuẩn luôn tồn tại giữa người bán và người mua xét về mặt lợi ích kinh tế trong quan hệ thị trừơng.
-Quan hệ giữa người bán và người bán: Đây cũng là quan hệ mâu thuaån. Biểu hiện là những người bán luôn tìm mọi cách để lôi kéo khách hàng về phía mình, giành và chiếm giữ những thị trường thuận lợi. Hai mâu thuẩn trên là hai mâu thuẩn vốn có của nền sản xuất hàng hóa, tồn tại khách quan và gắn liền với khâu tiêu thụ. Kết quả của mâu thuẩn đó làm cho quá trình tiêu thụ hàng hóa trở nên khó khăn, cạnh tranh, nhưng đồng thời nó cũng làm cho sản xuất hàng hóa phát triển.
Cấu trúc thị trường nông sản Mỗi cuộc trao đổi trực tiếp hay qua trung gian các nông sản trên thị trừơng đều là sự chuyển giao quyền sở hữu nông sản từ người chủ này sang người chủ khác với một giá nhất định. Nếu xem xét hàng loạt biến đổi về quyền sở hữu làm cho nông sản chuyển từ tay người sản xuất đầu tiên đến tay người tiêu dùng sau cùng là 44 những dây chuyền phân phối thì có nhiều dây chuyền khác nhau trong thị trừơng nông sản. Timmer và cộng sự (1983) mô tả tổng quát 5 dây chuyền phân phối khác nhau có thể hoạt động ở thị trừơng nông sản (1)Người sản xuất và người tiêu dùng ở nông thôn (2)Người sản xuất, người bán lẻ nông thôn và người tiêu dùng nông thôn. (3)Người sản xuất, người thu gom và người chế biến ở địa phương, và người tiêu dùng ở nông thôn (4)Người sản xuất, người thu gom và người chế biến ở địa phương, người bán buôn ở thành thị, người bán lẻ ở thành thị và người tiêu dùng thành thị.
(5)Người sản xuất, người thu gom và người chế biến không ở địa phương, người bán buôn ở thành thị, người bán lẻ ở thành thị, và người tiêu dùng ở thành thị.Vai trò thị trừơng nông sản Các hoạt động của thị trừơng nông sản có những vai trò sau: (1) Tạo ra khả năng sử dụng sản phẩm về thời gian (2)Tạo ra khả năng sử dụng sản phẩm về không gian địa lý. (3)Tạo ra khả năng sử dụng sản phẩm về hình thức.Phương hướng cải thiện Marketing nông sản (1)Khuyến khích mở rộng hình thức HTX dịch vụ đầu vào và đầu ra ở nông thôn HTX có lợi thế hơn trong việc giảm chi phí marketing so với các doanh nghiệp tư nhân trên các khía cạnh. • Chi phí về các hình thức thu hút khách hàng thừơng là thấp hơn. • HTX có thể giao hàng cho các Trung tâm bán buôn với một số lượng lớn hơn nhiều so với các thương lái tư nhân, và như vậy chi phí marketing trên 1 đơn vị sản phẩm sẽ thấp hơn.
• Nông dân thừơng không biết về sự thay đổi giá trên thị trừơng một cách kịp thời, do đó họ không thuận lợi trong việc mặc cả giá đối với người trung gian. Thông qua HTX của chính họ, chi phí trung gian sẽ được 44 giảm và khoản tiết kiệm này được phân phối lại cho chính họ thông qua lợi tức của cổ phần. (2)Cải thiện hệ thống bán lẻ theo hướng nâng cao về qui mô doanh số trên đơn vị bán lẻ. Hầu hết các nước đang phát triển trong quá trình phát triển hệ thống thị trừơng, có một điểm xuất phát giống nhau là sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là những sản phẩm dễ bị hư hỏng, được bán lẻ trên rất nhiều điểm bán lẻ(quầy bán lẻ), trên lề đường hoặc trong các chợ truyền thống.
Đặc điểm cơ bản của hệ thống này là hoạt động với quy mô nhỏ. Hoạt động với quy mô nhỏ lẻ sẽ làm cho chi phí marketing cao trên một đơn vị sản phẩm bán lẻ. Làm cách nào để cải thiện? Để giảm chi phí trên đơn vị sản phẩm bán lẻ, kinh nghiệm trên thế giới cho thấy nên phát triển các loại hình: • Siêu thị(Supermarket) • Cửa hàng chiết khấu(discount stores) • Sát nhập ngành(vertical intergration) • (3)Cải thiện việc phân loại và đóng gói sản phẩm.