ĐẶT VẤN ĐỀ Con người là vốn quý của xã hội. Nguồn lực con người là nguồn lực đáng quý nhất của mỗi quốc gia và toàn nhân loại. Xã hội càng phát triển thì giá trị của con người càng được tôn trọng, từ đó ý thức về việc bảo vệ sức khỏe của bản thân mỗi người cũng được nâng cao. Thị trường dược phẩm Việt Nam trong những năm gần đây phát triển mạnh mẽ, đa dạng về chủng loại để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân.
Tuy nhiên, thuốc cũng giống như các loại hàng hóa khác, cũng chịu ảnh hưởng của cơ chế thị trường, vấn đề lợi nhuận vẫn được đề cao. Bên cạnh đó do tác động của cơ chế thị trường làm cho việc sử dụng thuốc không hiệu quả và bất hợp lý đã và đang là điều đáng lo ngại: Lạm dụng biệt dược trong điều trị, giá thuốc không kiểm soát được, kháng thuốc, sử dụng thuốc bất hợp lý, việc kê đơn không phải là thuốc thiết yếu mà là thuốc có tính thương mại cao. Đó là một trong những nguyên nhân chính làm tăng chi phí cho người bệnh, giảm chất lượng chăm sóc sức khỏe và uy tín của bệnh viện Bệnh viện là cơ sở khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Việc lựa chọn thuốc để có một danh mục thuốc hợp lý, nhằm cung ứng thuốc đầy đủ, kịp thời, đảm bảo chất lượng và hoạt động sử dụng thuốc hợp lý có ảnh hưởng lớn đến chất lượng khám chữa bệnh và chăm lo sức khỏe toàn diện cho nhân dân.
Chính sách quốc gia về thuốc đã đưa ra hai mục tiêu đó là đảm bảo cung ứng thường xuyên và đầy đủ các thuốc có chất lượng đến tay người bệnh và đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả. Bệnh viện đa khoa Xuyên Á –TP.HCM bắt đầu tiếp nhận bệnh nhân từ ngày 19/5/2014, đến nay. Bệnh viện có 24 chuyên khoa, có quy mô 500 giường bệnh được đầu tư phát triển mạnh mẽ, nhiều kỹ thuật chuyên sâu. Thực trạng sử dụng thuốc trong bệnh viện hiện nay cần phải được đánh giá và xem xét để thực hiện tốt công tác cung ứng thuốc.
Vì vậy, việc phân tích 1 DMT sử dụng tại đơn vị là thực sự cần thiết. Do đó, tôi đã thực hiện đề tài “Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện đa khoa Xuyên Á – TP.HCM năm 2020” với 2 mục tiêu: 1. Mô tả cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng tại bệnh viện đa khoa Xuyên Á – TP. HCM năm 2020 theo một số chỉ tiêu 2.
Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại bệnh viện đa khoa Xuyên Á – TP.HCM năm 2020 theo phương pháp phân tích ABC, VEN Để từ các kết quả của nghiên cứu này phát hiện ra các vấn đề tồn tại của danh mục thuốc đã sử dụng. Từ đó đưa ra ý kiến đề xuất giúp quản lý, sử dụng thuốc hợp lý hơn và rút ra kinh nghiệm để xây dựng DMT cho các năm kế tiếp, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng trong công tác khám chữa bệnh tại bệnh viện. Danh mục thuốc trong bệnh viện 1. Khái niệm danh mục thuốc Danh mục thuốc là một danh sách các thuốc được sử dụng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe và bác sĩ kê đơn các thuốc trong danh mục này.
Theo WHO: Danh mục thuốc của bệnh viện là một danh sách các thuốc đã được lựa chọn và phê duyệt để sử dụng trong bệnh viện Danh mục thuốc bệnh viện có vai trò rất quan trọng trong chu trình quản lý thuốc trong bệnh viện; được xây dựng trên cơ sở Danh mục thuốc thiết yếu WHO hiện hành, đảm bảo mục tiêu: (1) sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả, (2) đáp ứng yêu cầu điều trị cho người bệnh, (3) đảm bảo quyền lợi về thuốc chữa bệnh cho người bệnh tham gia bảo hiểm y tế và (4) phù hợp với khả năng kinh tế của người bệnh và khả năng chi trả của quỹ Bảo hiểm y tế [6], [11]. Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc bệnh viện. Các nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc dùng trong bệnh viện được Bộ Y tế quy định tại thông tư số 21/2013/TT-BYT như sau [8]: a) Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện b) Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật c) Căn cứ vào hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám chữa bệnh d) Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện e) Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do Bộ Y tế ban hành g) Ưu tiên dùng thuốc sản xuất trong nước[8]. Các bước xây dựng danh mục thuốc bệnh viện.
a) Bước : Thu thập, phân tích tình hình sử dụng thuốc năm trước về số lượng và giá trị sử dụng, phân tích ABC - VEN, thuốc kém chất lượng, thuốc hỏng, các phản ứng có hại của thuốc, các sai sót trong điều trị dựa trên các nguồn thông tin đáng tin cậy b) Bước : Đánh giá các thuốc đề nghị bổ sung hoặc loại bỏ từ các khoa lâm sàng một cách khách quan c) Bước : Xây dựng danh mục thuốc và phân loại các thuốc trong danh mục theo nhóm điều trị và theo phân loại VEN d) Bước 4: Xây dựng các nội dung hướng dẫn sử dụng danh mục ( ví dụ như: thuốc hạn chế sử dụng, thuốc cần hội chẩn, thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần,…)[8]. Một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc 1. Phương pháp phân tích ABC * Khái niệm: Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách cho thuốc của bệnh viện. Phương pháp phân tích VEN * Khái niệm Pân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn.
Trong phân tích VEN, các thuốc được phân chia thành 3 hạng mục cụ thể như sau + Nhóm thuốc V (Vital drugs) - là nhóm thuốc dùng trong các trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh của bệnhviện 4 + Nhóm thuốc E (Essential drugs) - là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện + Nhóm thuốc N (Non-Essential drugs) - là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể tự khỏi, có thể bao gồm các thuốc mà hiệu quả điều trị còn chưa được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành cao không tương xứng với lợi ích lâm sàng của thuốc. - Phương pháp phân tích VEN được sử dụng chủ yếu để thiết lập quyền ưu tiên cho việc lựa chọn, mua và sử dụng trong hệ thống cung ứng, hướng lựa chọn, mua và sử dụng trong hệ thống cung ứng, hướng dẫn hoạt động quản lý tồn trữ và quyết định giá thuốc phù hợp. Phân tích VEN được sử dụng trong lựa chọn thuốc như sau thuốc tối cần và thuốc thiết yếu nên ưu tiên lựa chọn, nhất là khi ngân sách thuốc hạn hẹp Kết quả phân tích VEN được sử dụng nhằm : - Xem xét những thuốc thuộc nhóm N Hạn chế mua hoặc loại bỏ những thuốc này nếu có thể. - Xem lại số lượng mua dự kiến, mua các thuốc V và E trước nhóm N và đảm bảo thuốc nhóm V và E có một lượng dự trữ an toàn.
- Giám sát đơn hàng và số lượng tồn kho của nhóm V và E chặt chẽ hơn nhóm N [3], [8]. Phân tích sử dụng thuốc theo nhóm điều trị Phân tích nhóm điều trị kết hợp với việc tính chi phí sử dụng thuốc giúp xác định những nhóm điều trị có mức sử dụng thuốc cao nhất và chi phí nhiều nhất. Trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, phương pháp này sẽ gợi ý những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý. Ngoài ra phương pháp này sẽ chỉ ra những thuốc đã bị lạm dụng hoặc những thuốc mà mức tiêu thụ không mang tính đại diện cho những c bệnh cụ thể.
Qua đây, HĐT&ĐT lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và thuốc lựa chọn trong liệu pháp điều trị thay thế. Từ 5 đó tiến hành phân tích cụ thể hơn cho mỗi nhóm điều trị chi phí cao để xác định những thuốc đắt tiền và liệu pháp điều trị thay thế có chi phí hiệu quả cao. Phân tích nhóm điều trị theo thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08/08/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế gồm - Tiến hành 3 bước đầu tiên của phân tích ABC để thiết lập danh mục thuốc bao gồm cả số lượng và giá trị. - Sắp xếp nhóm điều trị cho từng thuốc theo Danh mục thuốc thiết yếu của Tổ chức y tế thế giới hoặc theo các tài liệu tham khảo khác như hệ thống phân loại Dược lý - Điều trị của hiệp hội Dược thư bệnh viện của Mỹ (AHFS) hoặc hệ thống phân loại Giải phẫu – Điều trị - Hóa học (ATC) của Tổ chức y tế Thế giới.
- Sắp xếp lại danh mục thuốc theo nhóm điều trị và tổng hợp giá trị phần trăm của mỗi thuốc cho mỗi nhóm điều trị để xác định nhóm điều trị nào chiếm chi phí lớn nhất [3], [8]. Thực trạng sử dụng thuốc tại các bệnh viện ở Việt Nam Năm 2015, tổng chi cho thuốc từ nguồn quỹ BHYT là 26.132 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 48,3% năm 2016 là 31.541,9 tỷ đồng, chiếm 41%. Trong đó, chi phí thuốc của 5 bệnh viện được xếp hạng loại đặc biệt (gồm các bệnh viện Bạch Mai, Trung ương Huế, chợ Rẫy, 108, Việt Đức) chiếm 11% tổng chi phí thuốc BHYT của cả nước trong năm 2015. Chi phí thuốc BHYT phần lớn tập trung vào 20 nhóm thuốc chính (chiếm 86% tổng chi phí thuốc BHYT chi trả năm 2016).
Trong đó, chiếm chi phí cao nhất lần lượt là các nhóm kháng sinh, ung thư, điều trị tăng huyết áp, các vitamin và khoáng chất. So sánh giữa năm 2015 và 2016, một số nhóm thuốc có chi phí sử dụng năm 2016 tăng hơn 30% so với năm 2015: nhóm thuốc điều trị ung thư tăng 62% so với năm 2015, insulin và các thuốc hạ đường huyết tăng 38%, nhóm thuốc kháng acid và thuốc chống loét tăng nhiều nhất là 183% so với năm 2015 [25].