Chương I, Điều 4 quy định dịch vụ giao nhận phân loại như sau: Các dịch vụ logistics chủ yếu, bao gồm: Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container; Dich vụ lưu hàng hóa và kho bãi, gồm hoạt động kinh doanh kho xử lý nguyên liệu, thiết bị và kho bãi container; Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa; Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyên và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi logistics; hoạt động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container. Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải, bao gồm: Dịch vụ vận tải hàng hải; Dịch vụ vận tải thuỷ nội địa; Dịch vụ vận tải hàng không; Dịch vụ vận tải đường sat; Dịch vụ vận tải đường bộ; Dịch vụ vận tải đường ống. Các dịch vụ logistics liên quan khác, bao gồm: Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật; Dịch vụ bưu chính; Dịch vụ thương mại bán buôn; - Dich vu thuong mai bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng; - _ Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác. Vai trò của dịch vụ giao nhận trong nền kinh tế Dịch vụ giao nhận ngày càng thể hiện rõ tâm quan trọng của mình trong việc thúc đây sự phát triển của nền kinh tế, đem lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp.
e Vai tro cla giao nhận với doanh nghiệp: Hoạt động giao nhận làm cho quá trình lưu thông hàng hóa diễn ra thuận lợi, ngay cả khi không có sự hiện diện của người gửi hàng và người nhận hàng, thúc đầy quá trình giao lưu hàng hóa nhanh chóng, an toàn và tiết kiệm. Hoạt động giao nhận đã và đang hoàn thiện, ngày một hiện đại giúp doanh nghiệp xuất nhập khẩu tiết kiệm chi phí vận tải cũng như các chi phí khác phát sinh trong quá trình lưu thông hàng hóa, từ đó làm giảm chi phí dịch vụ, hàng hóa cho doanh nghiệp, góp phần làm giảm giá cả trên thị trường, tăng tính tranh giá trong thị trường giữa các doanh nghiệp. Hơn hết, hoạt động giao nhận còn giúp cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường cả trong nước và quốc tế. e_ Vai trò đối với nền kinh tế: Hoạt động giao nhận góp phần tạo ra sự cạnh tranh về giá cho các doanh nghiệp, thúc đây nền kinh tế phát triển, góp phần tích vào kết quả tăng trưởng, giúp phát triển kinh tế xã hội.
Giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu là một ngành dịch vụ thương mại gắn liền mật thiết, ảnh hưởng đến kinh doanh quốc tế và đối ngoại. Kinh doanh dịch vụ giao nhận là một ngành dịch vụ thương mại đầu tư ít vốn nhưng lợi nhuận có thể nói là ôn định nếu nắm được cách lập kế hoạch tô chức và sự dụng tôi ưu cơ sở hạ tâng hiện có. Tốc độ tăng trưởng bình quan 12%-14%/nam, dich vu giao nhận hàng hóa chiếm 4%-5% GPD nước nhà và vẫn đang có xu hướng tăng dần hàng năm và đóng góp nguồn vốn quan trọng cho nền kinh tế. Trong sự phát triển hiện đại hóa — công nghiệp hóa của nền kinh tế hiện nay, hoạt động giao nhận càng thể hiện rõ tâm quan trọng của mình.
Trong thương mại quốc tế, khi hợp đồng thương mại được ký kết giữa người mua và người bán ở các quốc gia khác nhau, người bán phải lập tức thực hiện giao hàng đến tay người mua, tức là quá trình vận chuyển hàng hóa được diễn ra. Từ lúc quá trình vận chuyền bắt đầu cho đến khi hàng hóa đã được giao đến người mua hàng, sẽ phải thực hiện một loạt các công việc liên quan đến chuyên chở như: tổ chức đưa hàng ra cảng, hoàn thành chứng từ hàng hóa, khai báo hải quan, chuyền tải hàng dọc đường,. rất rất nhiều công việc liên quan chuyên chở khác, tất cả những công việc trên được gọi là nghiệp vụ của người giao nhận. Có thế thấy được, nghiệp vụ giao nhận đóng vai trò là yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của thương mại quốc tế, cũng như sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu.4: Quyền và nghĩa vụ của người giao nhận Theo Luật Thương mại Việt Nam năm 2005, Mục 4, Điều 167 quy định, người giao nhận có những quyền và nghĩa vụ sau đây: - Người giao nhận được nhận tiền công và các khoản thu nhập hợp lý khác.
-_ Nếu có lý do chính đáng trong khi thực hiện hợp đồng vì lợi ích của khách hàng thì có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng.1 Trường hợp xảy ra sai xót có thé dẫn đến việc không thực hiện được một phần hoặc toàn bộ những chỉ dẫn của khách hàng thì phải thông báo ngay cho khách hàng đề xin chỉ dẫn. Khi không có thỏa thuận về thời gian cu thé thực hiện nghĩa vụ với khách hàng thì phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong thời hạn hợp lý. Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải tuân thủ các quy định của pháp luật và tập quán vận tải khi thực hiện việc vận chuyển hàng hóa. Cơ sở pháp lý và các nguyên tắc trong giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển Cơ sở pháp lý Các văn bản pháp luật quốc tế chỉ phối hoạt động giao nhận như: Công ước của LHQ về chuyên chở hàng hóa bằng vận tải đa phương thức quốc té, 1980 (UN Convention on the International Multimodal Transport of Goods, 1980).
Công ước này được thông qua tại hội nghị của LHQ ngày 24/05/1980 tại Geneva gồm 84 nước tham gia. Cho đến nay, công ước này vẫn chưa có hiệu lực do chưa đủ số nước cần thiết dé phê chuẩn, gia nhập. Quy tắc của UNCTAD và ICC về chứng từ vận tải đa phương thức (UNCTAD/ICC Rules for Multimodal Transport Documents), số phát hành 48, đã có hiệu lực từ 01/01/1992. Bản quy tắc là một quy phạm pháp luật tuỳ ý nên khi sử dụng các bên phải dẫn chiếu vào hợp dồng.
Công ước Vienne 1980 về buôn bán quốc tế. Công ước Liên hiệp quốc tế về chuyên chở hàng hóa bằng đường biển, năm 1978. Nhà nước Việt Nam cũng đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vận tải, xếp dỡ, giao nhận hàng hóa xuất nhập khâu như: 10 -_ Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015 -_ Luật Hải quan 2014 - _ Luật Thương mại 2005 -__ Nghị định số 163/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dich vu logistics va gidi han trach nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dich vy logistics. - Nghi dinh số 147/2018/NĐ-CP quy định về điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực hàng hải.
- _ Thông tư 121/2021/TT-BTC ban hành ngày 24/12/2021 quy định về thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu phục vụ công tác phòng, chống dịch Covid-19, nộp chứng từ thuộc hồ sơ hải quan và kiểm tra thực tế đối với hàng hóa xuất khâu, nhập khâu trong bối cảnh dịch Covid-19.2 Các nguyên tắc Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải ban hành quyết định số 2106/QĐ-GTVT ngày 23 tháng § năm 1997, Chương III, Điều 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 và 13 quy định những nguyên tắc giao nhận hàng hóa xuất nhập khâu tại các cảng biển Việt Nam như sau: “Điều 6. Các bên được quyền lựa chọn phương thức trong việc giao nhận hàng hoá có lợi nhất và thoả thuận cụ thể trong hợp đồng. Nguyên tắc chung về giao nhận hàng hoá là giao/nhận cùng một phương thức. Phương thức giao nhận gồm: 1.
Giao nhận nguyên bao, bó, tam, kién, chiéc, cay. Giao nhan nguyén hầm cặp chì. Giao nhận theo trọng lượng, số lượng, thể tích theo phương thức cân, đo, đếm. Giao nhận theo mớn nước.
Giao nhận theo nguyên container niêm chì. Kết hợp các phương thức giao nhận nói trên. Các phương thức giao nhận khác. Chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác với người vận chuyên chịu trách nhiệm giao nhận hàng hoá.
Chủ hàng phải tổ chức giao nhận hàng hoá đảm bảo được định mức xếp dỡ của cảng. Nếu việc giao nhận hàng không đáp ứng định mức xếp dỡ của cảng thì cảng được phép đỡ hàng lên kho bãi cảng (đối với hàng nhập) hoặc yêu cầu chủ hàng tập kết trước hàng vào kho bãi cảng (đối với hàng xuất), chủ hàng phải thanh toán chi phí phát sinh cho cảng. Trong trường hợp người nhận hàng hoặc người được uỷ thác nhận hàng không thực hiện việc nhận hàng theo thoả thuận trong hợp đồng vận chuyền hoặc theo định mức bốc dỡ hàng hoá được cảng chính thức công bó, thì người vận chuyền và cảng có quyền lập biên bản, dỡ hàng khỏi tàu và ký gửi vào kho bãi cảng. Người nhận hàng có nghĩa vụ thanh toán mọi chi phí có liên quan.
Khi có hàng hoá phải lưu kho bãi của cảng thì chủ hàng hoặc người được uỷ thác phải giao nhận trực tiếp với người vận chuyền đồng thời giao nhận với cảng khối lượng hàng hoá lưu kho bãi cảng. Nếu người được chủ hàng uỷ thác là cảng thì cảng phải thực hiện theo hợp đồng uỷ thác đã ký kết với chủ hàng. Hàng hoá thông qua cảng phải có đầy đủ ký, mã hiệu hàng hoá theo quy định hiện hành, trừ hàng rời, hàng trần giao nhận theo tập quán thương mại. Đối với hàng container: tình trạng kỹ thuật vỏ còn nguyên vẹn, số hiệu container phải rõ ràng và còn nguyên niêm chì.
Đối với hàng nguyên ham cap chì: phải còn nguyên niêm chì. Nếu những yêu cầu tại khoản 1, 2, 3 Điều này không đảm bảo gây nên nham lẫn, chậm trễ trong giao nhận thì cảng được miễn trách nhiệm. Khi cảng giao hàng cho người nhận hàng phải tuân theo nguyên tắc: - Người nhận hàng phải xuất trình chứng từ hợp lệ xác nhận quyền được nhận hàng và có chứng từ thanh toán các loại cước phí cho cảng. - Người nhận hàng phải nhận liên tục trong một thời gian nhất định khối lượng hàng hoá trong một vận đơn hoặc giấy gửi hàng hoặc chứng từ vận chuyên hàng hoá tương đương hoặc một lệnh giao hàng.
- Cảng giao nhận hàng hoá cho người nhận hàng theo phương thức giao nhận quy định tại Điều 6 của Thẻ lệ này. - Cảng không chịu trách nhiệm về hàng hoá ở bên trong nếu bao, kiện hoặc dấu xi chì con nguyên vẹn.