Chương I: Tổng quan nghiên cứu về thống kê lao động trong doanh nghiệp. * Chương II: Một số lý luận cơ bản về lao động trong doanh nghiệp * Chương III: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng tình hình sử dụng lao động tại công ty cổ phần đầu tư Xây Dựng Ngân Hà * Chương IV: Các kết luận và giải pháp đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng lao động tại công ty cổ phần đầu tư Xây Dựng Ngân Hà Sinh viên: Cao Thị Hoài Lớp: HK1B Luan van Luận văn tốt nghiệp 4 Trường Đại học Thương Mại CHƯƠNG II MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 2. Một số lý luận cơ bản về lao động 2. Khái niêm, vai trò của lao động trong doanh nghiệp 2.Mác định nghĩa: “Lao động là hoạt động có mục đính, có ý thức của con người tác động vào giới tự nhiên nhằm làm thay đổi những vật thể tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người”.
Như vậy, lao động là hoạt động không thể thiếu của con người bởi lao động không chỉ tạo ra những của cải vật chất để nuôi sống con người mà còn phát triển con người về mặt thể chất và tri thức. Tuy nhiên đó là theo quan điểm trước đây con ngày nay khi khoa học phát triển thì lao động không chỉ đơn thuần như thế mà nó đòi hỏi phải có trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ cao. - Số lao động trong doanh nghiệp là số lao động có đủ tiêu chuẩn cần thiết, đã được đăng ký vào sổ lao động của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định (số lao động đó gọi là số lao động trong danh sách). - Lao động trong danh sách của doanh nghiệp là những người lao động đã được ghi tên vao danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trực tiếp quản lý, sử dụng sức lao động và trả lương.
- Số lao động trong danh sách thường được chia làm hai loại lao động là: lao động trực tiếp và lao động gián tiếp. + Lao động trực tiếp: là những người tham gia trực tiếp vào qua trình sản xuất, họ là những người điều khiển vận hành máy móc trong quá trình tạo ra sản phẩm cho doanh nghiệp. + Lao động gián tiệp: là lao động phải thông qua hệ thống tổ chức và tập thể lao động mới tác động vào sản xuất. Lao động này có chức năng vạch ra Sinh viên: Cao Thị Hoài Lớp: HK1B Luan van Luận văn tốt nghiệp 5 Trường Đại học Thương Mại phương hướng, tổ chức điều hành, phối hợp kiểm tra hoạt động của những người sản xuất.
- Năng suất lao động: là một phạm trù kinh tế nói lên kết quả hoạt động sản xuất của người lao động của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất. Đó là phạm trù kinh tế biểu hiện kết quả đạt được trên một đơn vị chi phí. Về lao động hay lượng lao động hao phí cho một đơn vị kết quả sản xuất kinh doanh. Vai trò của lao động Lao động là một bộ phận của nguồn lực phát triển, đó là yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất.
Dù bất kể doanh nghiệp nào đi chăng nữa thì lao động là một yếu tố vô cùng quan trọng quyết định đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Lao động là một trong những yếu tố quyết định nhất đến sự tác động tăng trưởng kinh tế vì tất cả của cải vật chất và tinh thần của xã hội đều do con người tạo ra, trong đó lao động đóng vai trò trực tiếp sản xuất ra của cải vất chất đó. Do đó lao động đóng vai trò quan tron nhất trong sản xuất kinh doanh. Nó đảm bảo sự hình thành, tôn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp muốn đạt hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải nâng cao năng suất lao động. Ngoài ra lao động còn là nhân tố giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh. Bởi một doanh nghiệp dù có công nghệ sản xuất hiện đại thế nào nếu lao động không có trình độ tương ứng để đáp ứng với công nghệ đó thì chắc chắn sẽ không đạt được kết quả tốt, không những thế cón có thể làm tổn hại đến những công nghệ sản xuất đó. Bê cạnh đó lao động mang lại một tinh thần đoàn kết, không khí làm việc và sự đoàn kết làm việc chung trong mỗi doanh nghiệp.
Chính sức mạnh tinh thần của người lao động giúp cho các doanh nghiệp vượt qua những khó khăn, thách thức mà nó tạo ra từ ý thức, trách nhiệm ban thân của mỗi cá nhân tập thể lao động trong doanh nghiệp. Như vậy, một doanh nghiệp nếu người lao động chán nản gây ra tâm lý lam việc hoang mang, không ổn định tích cực sẽ làm là giảm năng suất lao động Sinh viên: Cao Thị Hoài Lớp: HK1B Luan van Luận văn tốt nghiệp 6 Trường Đại học Thương Mại và hiệu quả sản xuất kinh doanh sụt giảm. Ngược lại một doanh nghiệp quan tâm đến lao động thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được nâng cao. Loại lao động a.
Loại lao động theo tác dụng của lao động đối với quá trình sản xuất: + Lao động trực tiếp sản xuất: Là lao động trực tiếp gắn liền với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bao gồm: công nhân vàn những người học nghề. - Công nhân: là những người trực tiếp sản xuất hoặc trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm. Tùy theo vài trò, toàn bộ công nhân được chia thành công nhân phụ và công nhân chính.
- Học nghề: là những người học kỹ thuận sản xuất dưới sự hướng dẫn của công nhân lành nghề. Lao động của họ cũng góp phần trực tiếp vào việc tạo ra sản phẩm của đơn vị. + Lao động gián tiếp: phải thông qua hệ thống tổ chức và tập thể lao động mới tác động vào sản xuất. Lao động này có chức năng vạch ra phương hướng, tổ chức điều hành phối hợp kiểm tra hoạt động của những người sản xuất.
Lao động gián tiếp gồm có:. Lao động quản lý kỹ thuật: là những người tổ chức quản lý chỉ đạo sản xuất, kiểm tra kỹ thuật và kiểm tra chất lượng sản phẩm. Lao động quản lý kinh tế: là những người lao động chỉ đạo sản xuất kinh doanh hoặc làm công tác nghiệp vụ thống kê, kế hoạch, tiền lương. Nhân viên quản lý hành chính: là những người làm công tác tổ chức hành chính, quản trị, kế toán, văn thư.
Phân loại lao động theo tính chất ổn định: + Lao động thường xuyên: là những lao động được tuyển dụng làm những công việc lâu dài, thường xuyên. Bao gồm: lao động biên chế, lao động hợp đồng dài hạn, kể cả lao động trong thời gian tập sự nhưng sẽ được sử dụng thường xuyên lâu dài. Sinh viên: Cao Thị Hoài Lớp: HK1B Luan van Luận văn tốt nghiệp 7 Trường Đại học Thương Mại + Lao động tạm thời: là những lao động làm những công việc mang tính thời vụ, hoặc do yêu cầu đột xuất. Phân loại theo độ tuổi: Việc phân loại này rất quan trọng vì nó giúp cho doanh nghiệp nắm được số lao động sắp nghỉ hưu để tiến hành tuyển chọn lao động mới, thay thế và tiến hành đào tạo nâng cao tay nghề cho lực lượng lao động trẻ.
Phân loại theo trình độ chuyên môn của người lao động: - Trình độ công nhân: số lao động này thường là lực lượng trực tiếp sản xuất trong doanh nghiệp. - Trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học: đây là số lao động được doanh nghiệp sử dụng trong quản lý về tổ chức và kỹ thuật. - Trình độ trung cấp. Phân loại theo giới tính: Phân loại lao động theo giới tính giúp doanh nghiệp xác định được cơ cấu lao động trong doanh nghiệp mình.
Các chỉ tiêu thống kê về lao động: Doanh nghiệp muốn đánh giá được tình hình sử dụng lao động một chách chính xác thì không thể dựa vào một hay một số chỉ tiêu mà phải hệ thống các chỉ tiêu. * Nhóm chỉ tiêu thống kê số lượng lao động: Số lượng lao động của doanh nghiệp là những người lao động đã được ghi tên, đăng ký vào sổ lao động của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trực tiếp quản lý sử dụng lao động và trả lương. Theo chế độ báo cáo thống kê hiện hành, các doanh nghiệp cần lập báo cáo 6 tháng, năm về tình hình lao động và thu nhập của người lao động. Trong đó bao gồm các chỉ tiêu phản ánh số lượng lao động như sau: - Số lao động có đến cuối kỳ: phản ánh số lượng lao động tại thời điểm ngày cuối của kỳ báo cáo.
Đây là lực lượng có thể sử dụng trong kỳ tới. Sinh viên: Cao Thị Hoài Lớp: HK1B Luan van Luận văn tốt nghiệp 8 Trường Đại học Thương Mại - Số lượng lao động bình quân trong kỳ: là số lao động đại diện điển hình trong một thời kỳ nhất định tháng, quý hoặc năm. Số lao động bình quân có thể được tính bằng nhiều phương pháp. * Trường hợp khi có số lượng lao động đầu kỳ, cuối kỳ: T T= Trong đó: T: số lượng lao động TĐk: số lao động đầu kỳ nghiên cứu TCK: số lao động cuối kỳ nghiên cứu * Trường hợp khi có số lao động tại các thời điểm.
- Khoảng cách thời gian bằng nhau: = Trong đó: Ti: số lao động có tại các thời điểm trong kỳ nghiên cứu(i=1, ) n: là tổng số các thời điểm không gian bằng nhau - Khoảng cách thời gian không bằng nhau: = Trong đó: : số lượng lao động bình quân (phản ánh quy mô lao động của doanh nghiệp trong kỳ) Ti: số lao động có trong ngày i của kỳ nghiên cứu (i=1, ) ni: số ngày của thời kỳ i * Trường hợp có tất cả số lao động của các ngày trong kỳ: = Trong đó: Sinh viên: Cao Thị Hoài Lớp: HK1B Luan van Luận văn tốt nghiệp 9 Trường Đại học Thương Mại Ti: số lượng lao động có trong ngày của kỳ nghiên cứu(i= 1, ) n: số ngày theo lịch trong kỳ * Nhóm chỉ tiêu thống kê chất lượng lao động. Muốn phản ánh chất lượng lao động cần sử dụng các chỉ tiêu sau: - Thâm liên nghề bình quân ( ) = Trong đó: Ni: Mức thâm liên công tác thứ i của lao động (i= 1, ) Ti: số lao động có mức thâm niên Ni : tổng số lao động tham gia có tính thâm niên nghề. Thâm niên nghề có tính cho từng bộ phận thuộc lao động làm công ăn lương. Thâm niên nghề bình quân của từng bộ phận lao động tăng lên phản ánh trình độ chuyên môn và trình độ thành thạo tăng lên.