Chương 1: Tạp chí Vạn Hạnh trong bỗi cảnh văn học phật giáo miền nam 1965 - 1975. Chương 2: Những cảm hứng chủ đạo và hình tượng con người của thơ trên Tạp chí Vạn Hạnh. Chương 3: Hệ thống biểu tượng và không gian - thời gian của thơ trên Tạp chí Vạn Hạnh. T4P CHÍ VAN HANH TRONG BOI CANH VĂN HỌC PHẬT GIÁO MIEN NAM 1965 - 1975 1.
Tinh hình Phật giáo va văn học Phật giáo miền Nam 1965 - 1975 1. Bối cảnh Phật giáo miền Nam 1965 - 1975 Đạo Phật là một trong những tôn giáo có bề dày lịch sử lâu đời, do Đức Phật Thích Ca Mau Ni (Šãkyamuni) sáng lập ở miền Bắc An Độ, vào thé kỷ 6 TCN. Cho đến nay, đạo Phật đã du nhập trên nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, Phật giáo được du nhập từ rất sớm, khoảng thế kỷ thứ II SCN theo đường thủy và đường bộ, từ đó Phật giáo tồn tại và phát triển một cách mạnh mẽ.
Phật giáo gan bó với đời sống và thâm nhuan trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam. Với chủ trương hòa bình hữu nghị, từ bị, bình đăng, tự lợi lợi tha, v. đạo Phật sau khi du nhập vào Việt Nam được công chúng đón nhận và dần trở thành nếp song, văn hóa của con người Việt Nam. Điều này, được thé hiện rõ qua tinh than của người Việt Nam từ xưa đến nay là thích cái thiện, ghét cái ác, mong muốn đất nước sống trong hòa bình, đoàn kết, biết yêu thương và quý kính lẫn nhau.
Vì bảo vệ nền độc lập dân tộc, đất nước Việt Nam đã liên tục trải qua các cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm. Trong đó, đã xuất hiện những vị anh hùng không khoác lên thân chiếc chiến bao, cũng không khoác lên thân chiếc áo lính mà khoác lên thân chiếc áo cà sa màu vàng y rực rỡ. Qua đó cho thấy, Phật giáo không chỉ là một tôn giáo mang yếu tố tâm linh mà còn góp phan to lớn trong phong trào dau tranh giành độc lập suốt nghìn năm Bắc thuộc. Đất nước trong thời bình, những người đệ tử Phật mang những trăn trở về cuộc sông nhân sinh vì lợi ích cộng đồng, với việc lưu giữ và hoằng dương chính pháp đến thế hệ mai sau, nên tầng lớp tăng sĩ đã và đang không ngừng học tập và truyền tải tư tưởng Phật giáo đến mọi tầng lớp xã hội, mọi nơi trên tổ quốc.
Từ đó, Phật giáo mang trên mình sứ mệnh xây dựng hòa bình và phát triển đất nước. Tháng 9 năm 1858, thực dân Pháp nô súng tiến công vào Da Nẵng. Phật giáo đã cùng dân tộc Việt Nam hứng chiu bao nỗi khô niềm đau; bao dang cay tui nhuc; bao mắt mát hy sinh của một dat nước nửa thuộc dia, nửa phong kiến. Lúc này, chu Tăng Ni và quần chúng Phật tử đã cùng tham gia tích cực vào những cuộc kháng chiến chống quân xâm lược.
Phật giáo đã dùng tinh bi cảm hóa nhân sinh, dùng trí tuệ dé bảo vệ đất nước, giup cho con người vượt qua gian khó và g1ữ vững niêm tin. 13 Những người Phật tử cũng là những nạn nhân của chiến tranh, noi theo gương Bồ tát Thích Quảng Đức mang đuốc tuệ chỉ lỗi con đường giải thoát cho mình và cho người: “Nhiều phần tử tăng sĩ và cư sĩ trẻ tuổi bí mật tham gia kháng chiến và bí mật liên lạc với bạn bè của họ trong những vùng kháng chiến. Họ đồng nhất “chính nghĩa độc lap’ với đạo Phật và họ gọi con đường tranh dau cho độc lập quốc gia của những người kháng chiến là “chính dao””. [25] Việc này phù hợp với tinh thần của người xuất 999 gia học đạo, không nghĩ đến hạnh phúc riêng, lợi ích cá nhân đề cống hiến sở tu, sở học của mình cho việc hoằng pháp lợi sinh.
Ngày 01 - 11 - 1963, Diệm - Nhu bị sát hai, chế độ độc tài của gia đình họ Ngô bị sụp đồ. Lúc này, Phật giáo miền Nam Việt Nam mở ra trang sử mới. Từ đó miền Nam nhanh chóng thành lập được các hoạt động xã hội Phật giáo, những ngôi chùa lần lượt được sửa chữa, xây dựng. Ngoài ra, chư Đại lão Hòa thượng, chư vị đứng đầu giáo hội.
lúc này chú trọng đào tạo tăng tài, mở trường Phật học, t6 chức các hoạt động xã hội, v. dé nỗ lực đưa Phật pháp vào đời. Sau thời Ngô Đình Diệm, những người chủ chốt của chính quyền Sài Gòn như Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu vẫn tiếp tục thi hành chính chính sách kỳ thị Phật giáo, trong cuốn Phong trào Phật giáo miễn Nam Việt Nam (1964 - 1968) có ghi: “Phong trào cách mạng miền Nam ngày càng phát triển mạnh thì tín đồ Phật giáo ngày càng bị khủng bố.”[3] Nguyễn Khánh đã hại rất nhiều người Phật tử, Tăng Ni, bắt giam hàng nghìn tín đồ, ngoài ra còn điều động cả lực lượng cảnh sát, xe tăng và binh lính tuần tra nghiêm ngặt ở Thành phố Sài Gòn. Cho nên, các phong trào Phật giáo vẫn tiếp diễn với quy mô lớn từ Huế, Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang, v.
trải dài đến các tỉnh miền Tây làm ảnh hưởng đến cuộc sông xã hội và an ninh. Xã hội tại miền Nam có nhiều hội từ thiện được thành lập như Văn hóa bình dân, Hướng đạo Sài Gòn, v. Một sỐ ngôi trường có tên được thành lập nhăm đào tạo chuyên môn về công tác xã hội. Các hội từ thiện lúc này quy tụ rất nhiều cư sĩ, thanh niên, sinh viên, học sinh miền Nam và hoạt động một cách minh bạch, tự nguyện và không vụ lợi.
Họ tham gia từ thiện đến những nơi gặp hoàn cảnh khó khăn như cứu trợ bão lụt, tặng bánh chưng vào dip tết, tặng sách vở, bút viết cho trẻ em, phục vụ xã hội. Ngày 25 - 8 - 1964, trước làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của quan chúng kiến Nguyễn Khánh phải “xuống thang”, chỉnh sửa lại những quy định mới. Tuy nhiên các tầng lớp học sinh, sinh viên, tăng sĩ, cư sĩ vẫn tiếp tục biểu tình tại chợ Bến Thành. 14 Phong trào Phật giáo ngày một dâng cao, chư Tăng Ni và Phật tử quyết tâm dùng cả mang sống dé đòi lại tự do tín ngưỡng bằng hành động tự thiêu, tuyệt thực, dựng ban thờ Phật ra đường.
Sau đó, chính quyền lúc này còn giam giữ chư Tăng Ni, Phật tử bằng thép gai “nội bất xuất, ngoại bat nhập”, chư Tăng Ni chịu nhiều áp bức nhưng trong tim họ vẫn thắp sáng niềm tin tươi sáng về tương lai. Dù đứng trước bạo loạn, chiến tranh, nhưng Phật giáo trong giai đoạn này vẫn luôn dan thân với dân chúng, các ngôi tự viện không sợ hãi đóng công chùa mà luôn mở cửa cho người dân vào ti nạn và cầu nguyện. Những vị thầy đã từng học ngành y nên có thé cứu giúp người bị thương, cũng có một số vị xin người giàu đem cho người nghèo, tự trồng rau, cuốc đất để nuôi sống chính bản thân và những người xung quanh. Thơ trên Tap chí Vạn Hanh ra đời trong bối cảnh bạo động và chiến loạn, nhưng những nhà thơ dùng tài trí và xúc cảm chân thật của mình đề cao chủ trương xây dựng thế giới hòa bình, bình đăng, bác ái; đồng thời chuyên tải những thông điệp lành mạnh, tinh thần lạc quan, yêu đời đến cho người đọc những giá trị nhân văn cao cả.
Có được nền hòa bình và quyên tự do tín ngưỡng như hiện nay, là một trong những lợi thế thúc đây Phật giáo ngày càng phát triển. Những bài thơ trong Tạp chí Vạn Hanh đã cho thay những năm tang tóc thương đau mà dan tộc Việt Nam phải gồng mình gánh chịu về những bat công, phi lý và đã man của chiến tranh gây ra. Văn học Phật giáo miền Nam 1965 - 1975 Văn học Phật giáo là toàn bộ những tác phẩm văn học có nội dung về triết lý Phật giáo. Trong thời đại phong kiến Việt Nam, lực lượng sáng tác gồm có vua quan, tăng lữ và nho sĩ vừa thấm đẫm tinh thần dân tộc lại vừa mang yếu tố thời đại.
Văn học Phật giáo thời gian về sau gồm có lượng sáng tác của tu sĩ và cư sĩ cùng giới trí thức am hiểu về đạo Phật. Lê Thị Thanh Tâm có đưa ra khái niệm về văn học Phật giáo: “Văn học Phật giáo là một khái niệm rộng bao gồm một hệ thống phức tạp các kinh điển và luận giải Phật học dưới nhiều hình thức. Từ khởi thủy là các Tạng luật (Vinaya Pitaka) chu yếu trình bày kỷ cương giáo hội đến Tạng kinh (Sutta Pitaka) là những bài Pháp do Đức Phật truyền dạy, và Tạng luận (Abhidhamma Pitaka). và sau này là các thể loại khác như: ngữ lục, truyện cao tăng, biến văn, niệm tụng kệ.
chứng tỏ cuộc sinh nở lâu dài các hình thức văn học đa chức năng của Phật giáo, vừa dé tuyên truyền giáo pháp, vừa phản 15 ánh tỉnh thần mỹ học Phật giáo trong sự ảnh hưởng toàn diện của nó đến những vấn đề tư tưởng trọng yếu của con người.” [43, 56 - 93] Văn học Phật giáo từ năm 1965 - 1975 là giai đoạn văn học thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu sử học, văn học, tôn giáo học, v. trong và ngoài nước. Qua những tác phẩm nghiên cứu văn học như Phong trào Phật giáo ở miễn Nam của Lê Cung, Tạp chi Vạn Hạnh, Việt Nam Phật giáo sử luận quyên II của Nguyễn Lang, Phong trào Phật giáo miễn Nam năm 1963 chủ biên PGS. Trương Văn Chung, PGS.
Nguyễn Công Lý, TT. Thích Nhật Từ, v. đã cho thấy tầm quan trọng của Phật giáo trong văn hóa, xã hội, lịch sử và văn học đối với người dân miền Nam. Văn học Phật giáo tại miền Nam giai đoạn này là “mảnh ruộng màu mỡ” dé sáng tạo văn chương trong các thể loại như truyện ngắn, tản văn, nghiên cứu, kịch thơ, tiểu thuyết va thơ, v.
rat da dang và phong phú. Những bài viết được sáng tác trên Tap chí Vạn Hạnh như làn gió nhẹ thổi vào tâm hồn người đọc, tạo nên khu vườn đầy sức sông, có thêm nhiều khiến thức cần thiết về Phật học lẫn thế học. Chứng kiến các cuộc đấu tranh bất bạo động các cuộc biểu tình, nhịn ăn, tự thiêu, v. của Phật tử và chư Tăng Ni giành quyền tự do tín ngưỡng và hiện thực cuộc sống xã hội đời thường đã tạo nguồn cảm hứng cho giới văn nghệ sĩ ở miền Nam như Thích Nhất Hạnh, Mặc Giang, Vũ Hoàng Chương, Trịnh Công Sơn, Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Phạm Công Thiện, Nguyễn Phố, Trụ Vũ, v.
Họ đã viết băng cảm xúc chân thật của chính mình về hiện thực cuộc sông.