CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NÔNG NGHIỆP TRONG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. 1 Các cơ sở lý thuyết về vai trò của ngành nông nghiệp trong phát triển kinh tế 1.1 Mô hình David Ricardo (1772-1823) Luận điểm cơ bản của Mô hình David Ricardo cho rằng đất đai dùng để sản xuất là nguồn gốc tăng trưởng kinh tế, nhưng đất sản xuất lại có giới hạn do đó người sản xuất phải mở rộng diện tích trên đất xấu hơn để sản xuất, lợi nhuận của chủ đất thu được ngày càng giảm dẫn đến chí phí sản xuất lương thực, thực phẩm cao. Do đó lợi nhuận/lượng đầu vào của ngành nông nghiệp có xu hướng giảm dần và giá lương thực thực phẩm có xu hướng tăng. Giá lương thực, thực phẩm tăng cao làm ảnh hưởng đến đời sống của công nhân trong ngành công nghiệp, tức là tiền lương danh nghĩa của lao động trong ngành công nghiệp phải tăng để đảm bảo đời sống cho họ do đó làm lợi nhuận của nhà tư bản công nghiệp giảm, mà lợi nhuận là nguồn tích lũy để mở rộng đầu tư dẫn đến tăng trưởng.
Như vậy, do giới hạn đất nông nghiệp dẫn đến xu hướng giảm lợi nhuận của cả người sản xuất nông nghiệp và công nghiệp và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh việc đất nông nghiệp giới hạn, dân số có xu hướng tăng nhanh tạo ra tình trạng dư thừa lao động trong nông nghiệp, tức là nền kinh tế xuất hiện tình trạnh thất nghiệp (bao gồm cả bán thất nghiệp, thất nghiệp trá hình trong khu vực nông thôn). Do nền kinh tế có tỷ lệ thất nghiệp cao làm cho năng suất lao động chung giảm, làm ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Từ những quan điểm cơ bản của Mô hình David Ricardo có thể thấy rằng những nước đang phát triển như Việt Nam phải giải quyết các vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển như: nâng cao năng suất lao động, đặc biệt là trong ngành nông nghiệp, đảm bảo lợi nhuận của người sản xuất, sử dụng hiệu quả tài -4- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.com nguyên đất, giải quyết tình trạng thất nghiệp (bao gồm cả bán thất nghiệp, thất nghiệp trá hình trong khu vực nông thôn), giảm tỷ lệ tăng dân số.2 Mô hình hai khu vực của Athur Lewis Mô hình hai khu vực cho rằng tăng trưởng kinh tế dựa vào sự tăng trưởng hai khu vực nông nghiệp và công nhiệp trong đó chú trọng yếu tố chính là lao động (L-labor), yếu tố tăng năng suất do đầu tư và khoa học kỹ thuật tác động lên hai khu vực kinh tế.
Tiêu biểu cho mô hình hai khu vực là mô hình Lewis, Tân cổ điển và Harry T. Luận điểm cơ bản của Mô hình hai khu vực là khả năng thu hút lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp của khu vực công nghiệp, làm tăng năng suất lao động xã hội và tạo ra tăng trưởng. Mô hình hai khu vực của Athur Lewis được đưa ra vào năm 1955 dựa trên giả định nền kinh tế gồm hai khu vực nông nghiệp truyền thống và công nghiệp. - Khu vực nông nghiệp truyền thống: do nông nghiệp chủ yếu dựa vào đất đai nhưng đất đai ngày càng khan hiếm, trong khi dân số ngày càng tăng làm cho lực lượng lao động trong nông nghiệp ngày càng tăng.1: Đường tổng sản phẩm nông nghiệp YA Y2 TPA Y1 L1 L2 L3 LA Trên đồ thị có thể thấy khi lao động trong ngành nông nghiệp tăng đến một mức nào đó (tăng từ L2 đến L3) thì năng suất biên của lao động bằng không, -5- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.com như vậy nếu giảm lượng lao động từ L3 xuống L2 sẽ không làm giảm sản lượng trong ngành nông nghiệp.
- Khu vực công nghiệp: Lewis cho rằng mức tiền lương trong khu vực công nghiệp phải cao hơn khoảng 30% so với mức lương tối thiểu trong khu vực nông nghiệp thì khu vực công nghiệp có thể thu hút lao động dư thừa trong nông nghiệp.2: Quá trình dịch chuyển lao động: TP(K 3) Y3 TP(K 2) TP(K1) Y1 Si D1 D3 W2 W1 L1 L2 L3 Theo Lewis đường cung lao động trong khu vực nông nghiệp được chia làm hai giai đọan. Giai đọan thứ nhất bắt đầu từ điểm W1, đây chính là mức lương có thể thu hút lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp, đường cung lao động tại giai đọan một có xu hướng nằm ngang, thể hiện mức lương bằng nhau của tất cả các lao động di chuyển từ khu vực nông nghiệp -6- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.com sang khu vực công nghiệp. Trong giai đoạn này khu vực công nghiệp thu hút một lượng lao động L1 từ khu vực nông nghiệp, tạo ra giá trị sản lượng là Y1 với lượng vốn là K1. Vì tiền lương không đổi trong khi tổng sản lượng tăng nên lợi nhuận của các nhà tư bản công nghiệp tăng.
Lợi nhuận được tái đầu tư mở rộng sản xuất nên vốn mới sẽ là K 2 (K 2>K1), hàm sản xuất mới sẽ là TP(K2). Lúc này khu vực công nghiệp lại tiếp tục thu hút lao động từ khu vực nông nghiệp. Giai đoạn hai bắt đầu khi lao động dư thừa trong khu vực nông nghiệp đã bị thu hút hết, khi khu vực nông nghiệp muốn thu hút thêm lao động từ khu vực nông nghiệp thì phải trả mức lương W2 lớn hơn W1 nên lợi nhuận công nghiệp sẽ giảm. Để mở rộng tổng sản phẩm và tìm kiếm lợi nhuận nhà tư bản công nghiệp phải sử dụng các yếu tố khác thay thế cho lao động như vốn, công nghệ.
Quá trình tăng trưởng sẽ tiếp tục. Mô hình lewis cho thấy tăng trưởng của nền kinh tế được thực hiện trên cơ sở tăng trưởng của ngành công nghiệp thông qua tích lủy vốn từ lao động dự thừa của ngành nông nghiệp. Khi một lượng lao động trong nông nghiệp được chuyển đi sẽ không làm giảm tổng sản lượng nông nghiệp, giá nông sản không giảm nên không tạo áp lực tăng lương trong khu vực công nghiệp. Nếu cả hai khu vực đều tập trung áp dụng công nghệ hiện đại sẽ tạo ra tích lũy lợi nhuận trên cả hai khu vực, tạo động lực tăng trưởng nhanh cho nền kinh tế.3 Mô hình Harry T.
Oshima Quan điểm của Oshima, lao động trong khu vực nông nghiệp có dư thừa nhưng chỉ vào thời điểm nhất định, khi vụ mùa đang vào giai đọan cao điểm có khả năng sẽ thiếu lao động, đặc biệt là các nước Châu Á gió mùa là các nước có nữa năm mưa nhiều, nữa năm mưa ít làm cho ngành nông nghiệp càng có tính mùa vụ rõ nét. Do đó, ông cho rằng quan điểm chuyển một lượng lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp mà không làm giảm sản lượng ngành nông nghiệp là không phù hợp (quan điểm của Lewis). Cũng giống như quan điểm của các nhà kinh tế học Tân Cổ Điển, Oshima cho rằng cần thiết phải phải đầu tư theo chiều sâu cho cả khu vực nông nghiệp -7- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.com và công nghiệp để đẩy nhanh quá trình phát triển. Tuy nhiên, đối với những nước có nguồn vốn và trình độ nhân lực có hạn, kỹ năng quản lý kém thì việc đầu tư cho hai khu vực cùng lúc là rất khó khả thi nếu không nói là phi thực tế.
Oshima đề nghị phát triển kinh tế theo 3 giai đoạn với những mục tiêu khác nhau. Giai đọan 1: Mục tiêu của giai đọan này là tập trung đầu tư cho nông nghiệp phát triển theo chiều rộng nhằm nâng cao sản lượng và đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp, giải quyết vấn đề thất nghiệp theo mùa vụ trong khu vực này. Mục tiêu này phù hợp với các nước đang phát triển do không cần đầu tư vốn lớn so với đầu tư vào ngành công nghiệp, đồng thời không đòi hỏi kỹ thuật nông nghiệp cao. Khi ngành nông nghiệp phát triển và tạo ra sản lượng nông sản lớn sẽ làm giảm giá trị nhập khẩu nông sản và có khả năng suất khẩu, trong cả hai trường hợp ngành nông nghiệp đều có vai trò tích lũy ngọai tệ, tạo điều kiện nhập khẩu máy móc, thiết bị cho các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động.
Dấu hiệu kết thúc giai đọan 1 là chủng loại hàng hóa nông sản được sản xuất ngày càng nhiều, quy mô ngày càng lớn, nhu cầu các yếu tố đầu vào cho ngành nông nghiệp lớn. Hàng hóa nông sản nhiều làm xuất hiện nhu cầu chế biến nông sản với quy mô lớn, tức là phát sinh điều kiện nhu cầu phát triển ngành công nghiệp và dịch vụ với quy mô lớn. Giai đọan 2: Sau khi kết thúc giai đọan 1, nền kinh tế đã có đủ nguồn lực để đồng thời đầu tư theo chiều rộng các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Ngành nông nghiệp tiếp tục đa dạng hóa sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ sinh học, xây dựng các mô hình sản xuất lớn nhằm mở rộng qui mô sản lượng.
Ngành nông nghiệp phát triển theo hướng đa dạng hóa tạo điều kiện thích hợp cho việc phát triển ngành công nghiệp chế biến, các ngành công nghiệp cung cấp đầu vào cho ngành nông nghiệp, các ngành công nghiệp thâm dụng lao động và nhu cầu các ngành dịch vụ. Dấu hiệu kết thúc giai đoạn 2 là tốc độ tăng trưởng việc làm lớn hơn tốc độ tăng trưởng lao động, thị trường lao động bị thu hẹp, lương thực tế tăng. -8- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.com Giai đọan 3: quá trình phát triển kinh tế ở giai đoạn 2 phải trải qua một thời gian khá dài làm cho nội lực của nền kinh tế khá mạnh và đủ khả năng phát triển các ngành kinh tế theo chiều sâu nhằm giảm nhu cầu lao động. Giai đoạn này xuất hiện khả năng thiếu hụt lao động do sự phát triển các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ ở giai đọan 2.
Do đó nền ngành nông nghiệp cần đẩy mạnh cơ giới hóa nhằm thay thế sức lao động, ứng dụng công nghệ sinh học nhằm tăng năng suất lao động. Lao động trong khu vực nông nghiệp có thể chuyển một phần sang ngành công nghiệp nhưng không làm giảm sản lượng nông nghiệp. Ngành công nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu và chuyển sang xuất khẩu với sự chuyển dịch dần trong cơ cấu sản xuất.