Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 1997-2006 đánh dấu chặng đường 10 năm đầu tiên thành phố Đà Nẵng trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương sau khi chia tách từ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Trong thời kỳ này, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) của thành phố đạt bình quân 13,3%/năm trong giai đoạn 2001-2005, vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra từ 13% đến 14%/năm. Đến năm 2005, quy mô GDP theo giá hiện hành của Đà Nẵng đạt 11.469 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người đạt 1.010 USD (tương đương 15,455 triệu đồng), dẫn đầu Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung. Tuy nhiên, đằng sau tốc độ tăng trưởng ấn tượng đó, nền kinh tế địa phương đối mặt với nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng: quy mô kinh tế còn nhỏ bé so với Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, thiếu vắng các ngành công nghiệp chủ lực, sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh thấp và hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu vào chưa cao.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là lượng hóa đóng góp của các yếu tố đầu vào gồm vốn, lao động và năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP của thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997-2006. Bên cạnh đó, đề tài phân tích mối quan hệ giữa chính sách đầu tư công vào cơ sở hạ tầng, tác động của cải cách thể chế và đánh giá vị thế kinh tế của Đà Nẵng trong không gian liên kết Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp các chỉ số định lượng cụ thể, như hệ số co giãn của vốn đạt 0,699 và hệ số gia tăng vốn - sản lượng (ICOR) bình quân ở mức 5,3 lần, qua đó tạo cơ sở khoa học để chính quyền địa phương hoàn thiện chiến lược phát triển dài hạn, hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 14,2%/năm giai đoạn 2006-2010 theo định hướng tại Quyết định số 148/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống phân tích dựa trên ba trụ cột lý thuyết kinh tế học phát triển hiện đại. Thứ nhất, mô hình tăng trưởng Harrod-Domar được ứng dụng để giải thích mối quan hệ giữa tỷ lệ tiết kiệm, tỷ lệ đầu tư và hệ số ICOR, trong đó hệ số ICOR đo lường hiệu quả phân bổ vốn đầu tư với mức tham chiếu chuẩn mực khoảng 3,0 đối với các nước đang phát triển và 5,0 đối với các nước phát triển. Thứ hai, mô hình tăng trưởng tân cổ điển Solow kết hợp hàm sản xuất Cobb-Douglas mở rộng được sử dụng để phân rã tốc độ tăng trưởng sản lượng thành các thành phần: đóng góp của tích lũy vốn, gia tăng lực lượng lao động và tiến bộ kỹ thuật thông qua số dư Solow (TFP). Mô hình nhấn mạnh rằng trong dài hạn, khi tỷ trọng thu nhập của vốn thường chỉ đạt khoảng 0,33 và nền kinh tế tiến tới trạng thái dừng, tiến bộ công nghệ là yếu tố duy nhất bảo đảm sự gia tăng bền vững của thu nhập bình quân đầu người. Thứ ba, lý thuyết thể chế mới của Douglass North được tích hợp nhằm phân tích tác động của các ràng buộc thể chế chính thức và phi chính thức, chi phí giao dịch, cấu trúc khuyến khích đầu tư tư nhân và vai trò của đầu tư công trong việc tạo hiệu ứng lan tỏa thúc đẩy đầu tư tư nhân thay vì gây ra hiệu ứng lấn át. Các khái niệm cốt lõi được vận hành bao gồm chất lượng tăng trưởng kinh tế, năng suất nhân tố tổng hợp, hiệu quả vốn đầu tư và liên kết không gian kinh tế vùng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập liên tục trong 10 năm (1997-2006) từ Niên giám thống kê thành phố Đà Nẵng, Tổng cục Thống kê, Báo cáo số 130/BC-UBND và số liệu Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố. Đồng thời, tác giả kết hợp nguồn dữ liệu sơ cấp từ cuộc điều tra chọn mẫu khảo sát thực tế gồm 580 cán bộ, kỹ sư và lao động diện thu hút nhân tài của thành phố vào năm 2005. Về phương pháp định lượng, luận văn áp dụng kỹ thuật hồi quy bình phương bé nhất thông thường (OLS) trên chuỗi thời gian 10 năm sau khi logarit hóa hàm sản xuất Cobb-Douglas có dạng tuyến tính ln(Y) = ln(A) + alphaln(L) + betaln(K). Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm ước lượng chính xác hệ số co giãn từng phần của sản lượng theo vốn và lao động, từ đó thiết lập phương trình hạch toán tăng trưởng Solow để bóc tách tỷ lệ đóng góp của TFP, khắc phục triệt để các nhược điểm của phương pháp định tính thuần túy. Ngoài ra, phương pháp so sánh kinh tế đa chiều được triển khai để đối chiếu các chỉ tiêu năng suất lao động, cơ cấu ngành và vốn đầu tư của Đà Nẵng với 4 địa phương trong vùng gồm Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và mức trung bình của cả nước.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế của Đà Nẵng giai đoạn 1997-2006 mang đậm tính chất thâm dụng vốn. Kết quả hồi quy kinh tế lượng xác định hệ số co giãn của sản lượng theo vốn đạt beta = 0,699, phản ánh rằng khi vốn tăng 1% thì GDP tăng 0,699%. Vốn đầu tư phát triển đóng góp tới gần 80% (tương đương 4/5) vào mức tăng trưởng GDP chung của thành phố. Tốc độ tăng vốn đầu tư thực tế đạt bình quân 18,98%/năm, vượt xa mức 12,7%/năm của cả nước, đẩy tỷ lệ vốn đầu tư phát triển trên GDP bình quân lên tới 54%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ 34% của toàn quốc. Tính đến cuối năm 2006, quy mô vốn đầu tư phát triển của thành phố đã tăng gấp 6 lần theo giá thực tế và gấp 4 lần theo giá so sánh so với năm 1997.

Thứ hai, cơ cấu đầu tư bộc lộ sự mất cân đối sâu sắc giữa khu vực nhà nước và khu vực dân doanh. Vốn đầu tư của khu vực nhà nước chiếm tỷ trọng áp đảo, bình quân 77% tổng vốn đầu tư phát triển toàn thành phố (so với mức 55% của cả nước), nhưng chỉ đóng góp bình quân 55% vào GDP. Ngược lại, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chỉ nhận được bình quân 9,4% tổng vốn đầu tư nhưng lại tạo ra tới 30,6% GDP (đạt đỉnh 37% vào năm 2006). Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chiếm 13% tổng vốn đầu tư nhưng chỉ đóng góp khiêm tốn từ 7% đến 8% vào GDP thành phố.

Thứ ba, hiệu quả sử dụng vốn ở mức thấp và đóng góp của TFP rất mờ nhạt. Hệ số ICOR tính theo giá cố định của Đà Nẵng luôn duy trì ở mức cao trên 4,0 và đạt bình quân 5,3 lần trong cả giai đoạn. Đặc biệt vào năm 2006, do ảnh hưởng của bão số 6 gây thiệt hại ước tính 6.000 tỷ đồng, thành phố phải gia tăng tổng vốn khắc phục lên 10.101 tỷ đồng, khiến hệ số ICOR tăng đột biến. Tốc độ tăng TFP trong 10 năm dao động thất thường và có nhiều năm mang giá trị âm, phản ánh chất lượng tăng trưởng kinh tế còn rất thấp.

Thứ tư, công tác phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao bộc lộ nhiều bất cập lớn. Mặc dù năng suất lao động xã hội tăng từ 8,645 triệu đồng/người năm 1997 lên 17,504 triệu đồng/người năm 2006, tốc độ tăng trưởng năng suất lại có xu hướng giảm dần. Kết quả khảo sát 580 lao động thuộc chính sách thu hút nhân tài năm 2005 chỉ ra rằng có tới 30% nhân sự đã rời bỏ vị trí, 34% chưa phát huy tốt chuyên môn và 13,5% bị bố trí công việc không phù hợp với bằng cấp đào tạo.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến tình trạng tăng trưởng thiên về chiều rộng xuất phát từ chiến lược tập trung cao độ nguồn lực vào các dự án hạ tầng kỹ thuật và chỉnh trang đô thị trong 10 năm sau khi tách tỉnh. Hàng loạt công trình giao thông trọng điểm như cầu Sông Hàn, đại lộ Nguyễn Tất Thành (giải tỏa hơn 30.000 hộ dân nhà chồ) và hầm đường bộ Hải Vân đã tạo diện mạo đô thị khang trang, nhưng công tác quản lý vốn công lỏng lẻo dẫn đến thất thoát, nợ đọng xây dựng cơ bản kéo dài và đầu tư dàn trải kém hiệu quả ở một số công trình công cộng. Hiện tượng này khẳng định sự tồn tại của hiệu ứng lấn át đầu tư (crowding-out), khi vốn nhà nước tập trung quá mức làm hạn chế khả năng tiếp cận đất đai và nguồn lực tín dụng của khối doanh nghiệp tư nhân.

So sánh với các nghiên cứu thực nghiệm tại các đô thị lớn trong nước, Đà Nẵng có tốc độ gia tăng số lượng doanh nghiệp tư nhân nhanh (từ 90 doanh nghiệp năm 1997 lên 504 doanh nghiệp năm 2006), nhưng quy mô doanh nghiệp rất nhỏ bé với 49% số cơ sở có mức vốn đăng ký dưới 2 tỷ đồng. Năng lực tài chính hạn chế khiến các doanh nghiệp khó đổi mới công nghệ, giải thích vì sao đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế địa phương lại thua kém các trung tâm kinh tế đầu tàu. Để làm nổi bật những phát hiện này, toàn bộ diễn biến dữ liệu có thể được minh họa trực quan thông qua biểu đồ cột chồng thể hiện cơ cấu vốn đầu tư ba khu vực sở hữu, đồ thị đường biểu diễn biến động nghịch chiều giữa tỷ trọng vốn đầu tư và mức đóng góp GDP, cùng bảng ma trận hệ số ICOR đa chiều giai đoạn 1997-2006.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cơ cấu danh mục đầu tư công và nâng cao hiệu quả quản trị vốn nhà nước. Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng phối hợp cùng Sở Kế hoạch và Đầu tư cần rà soát, cắt giảm tỷ trọng vốn đầu tư công từ mức 77% xuống dưới 50% tổng vốn đầu tư toàn xã hội trước năm 2010. Tập trung nguồn vốn ngân sách cho các hạ tầng giao thông huyết mạch, logistics cảng biển và hạ tầng mềm, chấm dứt triệt để tình trạng đầu tư dàn trải nhằm kéo giảm hệ số ICOR của khu vực nhà nước từ mức 3,91 xuống dưới 3,5, đưa ICOR toàn thành phố về mức hợp lý dưới 4,0 trong giai đoạn 2007-2012.

Thứ hai, đẩy mạnh cơ chế khuyến khích khối doanh nghiệp dân doanh mở rộng quy mô. Sở Tài chính chủ trì thiết lập quỹ bảo lãnh tín dụng và triển khai các gói hỗ trợ mặt bằng sản xuất tại các khu công nghiệp, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ doanh nghiệp có quy mô vốn trên 10 tỷ đồng từ 18% lên 35% trong giai đoạn 2008-2015. Mục tiêu cụ thể là nâng mức đóng góp của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh vào GDP thành phố từ 37% năm 2006 lên mức 45% vào năm 2015, phát huy tối đa lợi thế quản trị vốn hiệu quả của khối tư nhân với hệ số ICOR chỉ ở mức 1,80.

Thứ ba, tái định vị chiến lược thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trung tâm Xúc tiến Đầu tư Đà Nẵng cần chuyển trọng tâm từ các dự án bất động sản sang các ngành công nghiệp chế tạo có giá trị gia tăng cao, công nghệ thông tin và dịch vụ du lịch cao cấp. Cần đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao tính minh bạch theo chuẩn chỉ số PCI và kiên quyết thu hồi các dự án chậm triển khai, đặt mục tiêu thu hút vốn FDI thực hiện đạt từ 250 đến 300 triệu USD/năm giai đoạn 2008-2015, nâng mức đóng góp của FDI vào GDP lên 15%.

Thứ tư, cải cách căn bản chính sách phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng suất TFP. Sở Nội vụ và Sở Khoa học và Công nghệ cần hoàn thiện quy chế sử dụng nhân tài, chuyển từ chính sách tuyển dụng thụ động sang cơ chế đãi ngộ gắn với hiệu suất công việc thực tế, đặt mục tiêu hạ tỷ lệ nhân lực chất lượng cao rời bỏ khu vực công xuống dưới 10% trước năm 2010. Đồng thời, thành phố cần tài trợ kinh phí đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp, phấn đấu nâng tỷ trọng đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP lên 30% đến 35% trong giai đoạn 2011-2015.

Thứ năm, tăng cường liên kết kinh tế trong Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung. Ban Chỉ đạo Vùng cùng chính quyền Đà Nẵng cần chủ động liên kết với Thừa Thiên Huế và Quảng Nam để hoàn thiện mạng lưới hạ tầng Hành lang Kinh tế Đông Tây, chia sẻ hạ tầng logistics Cảng Tiên Sa và Sân bay Quốc tế Đà Nẵng, phát triển chuỗi du lịch ba di sản thế giới nhằm hiện thực hóa vai trò trung tâm kinh tế - dịch vụ của miền Trung theo Quyết định số 148/2004/QĐ-TTg trước năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý kinh tế tại các cơ quan nhà nước. Luận văn cung cấp hệ thống bằng chứng thực nghiệm về hệ số co giãn vốn 0,699, hiện tượng lấn át đầu tư tư nhân và các điểm nghẽn của hệ số ICOR 5,3 lần, hỗ trợ trực tiếp cho các sở, ngành trong việc xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch đầu tư công trung hạn và chương trình nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.

Nhóm 2: Các giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế học và Kinh tế phát triển. Đề tài đóng vai trò là một tài liệu tham khảo học thuật giá trị về quy trình ứng dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas, phương pháp hạch toán tăng trưởng Solow trên chuỗi dữ liệu 10 năm và phương pháp thiết kế mẫu khảo sát thực địa 580 đối tượng để lượng hóa đóng góp của các yếu tố nguồn lực.

Nhóm 3: Lãnh đạo các hiệp hội doanh nghiệp và các nhà đầu tư tư nhân. Công trình đem lại góc nhìn sắc bén về cơ cấu kinh tế địa phương, thực trạng 49% doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 2 tỷ đồng và các cơ hội mở rộng thị trường khi chính quyền chuyển dịch định hướng hỗ trợ sang khu vực dân doanh và phát triển các ngành dịch vụ, công nghệ.

Nhóm 4: Các chuyên gia tư vấn quy hoạch phát triển vùng và kinh tế không gian. Luận văn cung cấp luận cứ chi tiết về mô hình phân bổ nguồn lực, liên kết hạ tầng giao thông dọc Hành lang Kinh tế Đông Tây và giải pháp phát huy vai trò cực tăng trưởng của Đà Nẵng đối với 4 tỉnh lân cận trong khu vực miền Trung.

Câu hỏi thường gặp

Câu 1: Vì sao tốc độ tăng trưởng GDP của Đà Nẵng đạt tới 13,3%/năm nhưng vẫn bị đánh giá là tăng trưởng dựa trên chiều rộng?

Trả lời: Giai đoạn 1997-2006, tăng trưởng GDP của thành phố đạt 13,3%/năm nhưng phụ thuộc tới gần 80% vào tích lũy vốn đầu tư với tốc độ tăng vốn thực tế 18,98%/năm. Hệ số ICOR ở mức cao 5,3 lần cùng với đóng góp của TFP rất thấp và có năm âm cho thấy tăng trưởng chủ yếu dựa vào mở rộng khối lượng đầu tư hạ tầng đô thị chứ chưa xuất phát từ nâng cao năng suất lao động và đổi mới công nghệ.

Câu 2: Biểu hiện cụ thể của hiệu ứng lấn át đầu tư giữa khu vực nhà nước và tư nhân tại Đà Nẵng là gì?

Trả lời: Trong 10 năm nghiên cứu, khu vực kinh tế nhà nước chiếm tới 77% tổng vốn đầu tư phát triển nhưng chỉ đóng góp 55% GDP. Ngược lại, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chỉ nhận được 9,4% tổng vốn đầu tư nhưng đóng góp tới 30,6% GDP. Sự tập trung nguồn lực công vào các dự án hạ tầng lớn đã thu hẹp đáng kể dư địa tiếp cận đất đai và nguồn vốn tín dụng của các doanh nghiệp dân doanh.

Câu 3: Đâu là nguyên nhân chính khiến 30% nhân sự chất lượng cao rời bỏ vị trí công tác tại Đà Nẵng năm 2005?

Trả lời: Khảo sát 580 cán bộ, chuyên viên thuộc diện thu hút nhân tài cho thấy nguyên nhân chính là sự thiếu tương thích giữa năng lực chuyên môn và vị trí việc làm, với 34% nhân sự không phát huy được chuyên môn và 13,5% bị bố trí công tác chưa phù hợp. Thêm vào đó, môi trường làm việc khu vực công chưa tạo đủ động lực phát triển và mức thu nhập chưa đủ sức cạnh tranh so với các tỉnh thành phía Nam.

Câu 4: Vì sao hệ số ICOR của thành phố lại gia tăng đột biến vào năm 2006?

Trả lời: Vào tháng 10 năm 2006, cơn bão số 6 tàn phá nghiêm trọng Đà Nẵng với mức thiệt hại ước tính lên đến 6.000 tỷ đồng. Để khắc phục hậu quả thiên tai, thành phố phải tăng mạnh vốn đầu tư từ 7.366 tỷ đồng lên 10.101 tỷ đồng (tăng 37%), trong khi tăng trưởng GDP bị chững lại, khiến giá trị hệ số ICOR bị đẩy lên rất cao trong năm này.

Câu 5: Luận văn đưa ra giải pháp đột phá nào để nâng cao chất lượng tăng trưởng của Đà Nẵng trong dài hạn?

Trả lời: Luận văn đề xuất giảm tỷ trọng vốn đầu tư nhà nước xuống dưới 50%, hạ hệ số ICOR xuống dưới 4,0 trước năm 2010, đẩy mạnh phát triển khu vực tư nhân đạt 45% GDP vào năm 2015, đồng thời chuyển hướng thu hút FDI sang công nghệ cao và nâng cao tỷ trọng đóng góp của TFP lên 30-35% nhằm bảo đảm tính bền vững cho nền kinh tế.

Kết luận

  • Tăng trưởng kinh tế thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997-2006 đạt tốc độ cao với GDP bình quân 13,3%/năm, khẳng định bước chuyển mình vượt bậc về quy mô đô thị sau 10 năm chia tách địa giới hành chính.
  • Mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào thâm dụng vốn với hệ số co giãn beta = 0,699, trong đó vốn đầu tư phát triển đóng góp gần 80% vào tăng trưởng sản lượng toàn thành phố.
  • Hiệu quả sử dụng vốn còn thấp với hệ số ICOR bình quân 5,3 lần, đi kèm hiện tượng lấn át đầu tư khi khu vực nhà nước chiếm 77% vốn nhưng chỉ tạo ra 55% GDP.
  • Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp mờ nhạt và công tác phát triển nguồn nhân lực còn nhiều rào cản với 30% nhân tài thu hút rời bỏ vị trí việc làm.
  • Định hình hệ thống 5 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ nhằm tái cơ cấu đầu tư công, nâng cao năng lực khối dân doanh, thu hút FDI công nghệ cao và liên kết vùng bền vững.

Đóng góp khoa học cốt lõi của luận văn là đã cung cấp hệ thống luận cứ thực nghiệm định lượng toàn diện đầu tiên về nguồn gốc tăng trưởng của một đô thị trung tâm miền Trung, vạch rõ ranh giới giữa tăng trưởng số lượng và chất lượng phát triển. Về lộ trình triển khai tiếp theo, thành phố cần hoàn thành tái cơ cấu vốn đầu tư công và hoàn thiện thể chế nhân lực trong giai đoạn 2007-2010, tạo bàn đạp đẩy mạnh công nghệ và nâng cao TFP giai đoạn 2011-2015. Các cấp quản lý, nhà nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp hãy khai thác sâu sắc các phát hiện của công trình này nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa Đà Nẵng trở thành đầu tàu kinh tế - dịch vụ hiện đại của cả nước.