Luận văn: Tang thương ngẫu lục, Vũ trung tùy bút – Tính cách thể loại & Hình tượng tác giả

Luận văn phân tích chuyên sâu Tang thương ngẫu lục và Vũ trung tùy bút, khám phá tính cách thể loại cùng hình tượng tác giả độc đáo.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

155
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài (Lý do chọn đề tài)

0.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu (Lịch sử vấn đề)

0.3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

0.3.1. Đối tượng nghiên cứu

0.3.2. Mục tiêu nghiên cứu

0.4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

0.4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.4.2. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Phạm vi nghiên cứu

0.6. Cấu trúc của luận văn

0.7. Đóng góp của khóa luận

1. Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Các khái niệm liên quan

1.1.1. Thể loại văn học

1.1.2. Hình tượng tác giả

1.2. Tang thương ngẫu lục và Vũ trung tùy bút trong bối cảnh văn xuôi thời kỳ “Lê mạt Nguyễn sơ”

1.2.1. Thời đại lịch sử “Lê mạt Nguyễn sơ” của hai tác phẩm

1.2.2. Thành tựu của văn xuôi tự sự thời cuối Lê đầu Nguyễn

1.3. Tang thương ngẫu lục và Vũ trung tùy bút - hai tác phẩm văn xuôi tự sự đặc sắc

2. Chương 2: TÍNH CÁCH THỂ LOẠI CỦA TANG THƯƠNG NGẪU LỤC VÀ VŨ TRUNG TÙY BÚT

2.1. Vấn đề đặc điểm và phân loại thể loại văn học trung đại

2.1.1. Tiến trình thể loại văn học trung đại

2.1.2. Tính chất thể loại văn học trung đại

2.1.3. Các quan điểm phân loại thể loại văn học trung đại

2.1.4. Đặc điểm của một số thể loại trong văn học trung đại

2.2. Ranh giới truyện và kí trung đại

2.3. Sự hỗn dung thể loại trong Tang thương ngẫu lục và Vũ trung tùy bút

2.4. Vấn đề thể loại của Tang thương ngẫu lục và Vũ trung tùy bút

2.4.1. Những thể loại trong Tang thương ngẫu lục và Vũ trung tùy bút

2.4.2. Thử xác định thể loại các thiên trong Tang thương ngẫu lục và Vũ trung tùy bút

2.4.2.1. Thử xác định thể loại các thiên trong Tang thương ngẫu lục
2.4.2.2. Thử xác định thể loại các thiên trong Vũ trung tùy bút

2.4.3. Thống kê, quy loại thể loại tác phẩm trong Tang thương ngẫu lục và Vũ trung tùy bút

3. Chương 3: HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ TRONG TANG THƯƠNG NGẪU LỤC VÀ VŨ TRUNG TÙY BÚT

3.1. Kẻ sĩ cao nhã

3.1.1. Ý thức "phận sự" của bản thân

3.1.2. Nét cao nhã của trí thức đất kinh kì

3.2. Tri thức về văn hiến và học thuật

3.2.1. Tri thức về duyên cách, địa lý

3.2.2. Tri thức về phong tục đời sống

3.3. Nhà chép sử nghiêm cẩn

3.3.1. Ghi chép những sự kiện xảy ra ở đời “Lê mạt Nguyễn sơ”

3.3.2. Ghi chép về hiện thực sinh hoạt đời sống xã hội

3.3.3. Ghi chép về những nhân vật phi thường trong lịch sử

3.4. Bậc hàn nho ưu thời mẫn thế

3.4.1. Sự băn khoăn, trăn trở trước thời cuộc

3.4.2. Nỗi buồn trước cuộc bể dâu

3.4.3. Lời tố cáo, phê phán xã hội suy đồi

3.4.4. Lòng yêu nước, thương dân sâu sắc

3.5. Niềm trân trọng với những giá trị truyền thống

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới Thiệu Khám Phá Tang Thương Ngẫu Lục Tùy Bút 55

Văn học trung đại Việt Nam, với những thành tựu đáng kể, từ thơ ca đến văn xuôi, đã tô điểm cho vườn hoa văn học dân tộc. Giai đoạn văn học từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX được xem là thời kỳ phát triển phồn thịnh nhất. Văn học giai đoạn này nảy mầm trong bối cảnh lịch sử nhiều biến động, tạo một mảnh đất màu mỡ để ghi lại một cách chân xác hiện thực lịch sử, từ đó cất lên tiếng nói bênh vực, đề cao quyền sống của những con người khổ đau. Cùng với thơ ca, văn xuôi thế kỷ XVIII - XIX đã hoàn thành sứ mệnh nghệ thuật của mình, chuẩn bị hành trang cho văn học hiện đại hội nhập với văn học thế giới. Khi nhắc đến văn học giai đoạn này, người ta thường chú trọng đến thể loại trữ tình hơn là tự sự. Các nhà nghiên cứu cũng chưa quan tâm đầy đủ đến các tác phẩm truyện, kí thế kỷ XVIII - XIX, ngoại trừ Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái. Tiếp thu những thành tựu đi trước, kết hợp với sự sáng tạo của những tài năng cá nhân tác giả, các tác phẩm truyện, kí giai đoạn này đã đem đến cho văn học trung đại một bức tranh cuối mùa thật đậm nét và đa sắc màu. Nó là sự kế thừa của văn hóa, tín ngưỡng dân gian dân tộc và phần nào cho thấy được sự tưởng tượng phong phú cùng sức ám dụ nghệ thuật của tác phẩm văn học trong việc phản ánh hiện thực. Điều này đem lại sự hấp dẫn, lôi cuốn và góp phần tạo nên thành tựu của văn xuôi thế kỷ XVIII - XIX. Trong đó kí trung đại chắc hẳn sẽ kém phần đa dạng và thiếu sự hoàn thiện nếu không kể tới Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ và Tang thương ngẫu lục mà ông viết cùng Nguyễn Án. Xét ở văn học trung đại nói chung và văn xuôi tự sự thời kì cuối Lê đầu Nguyễn nói riêng, không có các tác phẩm văn học nào mà tác giả của nó lại gần giống nhau về hoàn cảnh sống; đồng điệu với nhau về nếp suy nghĩ để cùng thể hiện tình cảm, thái độ đối với xã hội đương thời bằng thể văn tuỳ bút, ngẫu lục như trường hợp của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án. Đằng sau cá tính tự do, phóng túng của ngòi bút đưa xúc cảm chảy trôi theo các sự việc của thế sự để ghi lại điều tai nghe mắt thấy, Tang thương ngẫu lụcVũ trung tuỳ bút đã lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc đồng thời bộc lộ tâm tư qua những lời bình luận trữ tình hay qua cách miêu tả nhiều khi hết sức thi vị, đậm chất văn chương, để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng độc giả yêu văn học trung đại. Như Dương Quảng Hàm đã khẳng định: “Tang thương ngẫu lục cùng với Vũ trung tùy bút đều là những tài liệu quý về lịch sử, địa lý, điển lễ, phong tục, lễ nghi ở cuối đời Lê”. Cho đến nay, việc nghiên cứu hai tác phẩm còn ít và dường như chưa có một công trình nào tìm hiểu một cách tỉ mỉ, toàn diện, mang tính hệ thống. Nó chỉ được đề cập một cách khái lược khi người ta bàn về những tác phẩm, những hiện tượng văn học cùng thời. Vì thế, việc nghiên cứu hai tác phẩm sẽ đem đến cái nhìn đầy đủ hơn về vị trí của truyện, kí Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX, đồng thời có cách nhìn nhận, đánh giá xác đáng hơn về văn xuôi giai đoạn này trong tiến trình vận động và phát triển của văn học dân tộc. Điều này còn góp phần nâng cao nhận thức về loại hình văn xuôi tự sự trung đại trên các bình diện như: hình thức thể loại và nội dung tư tưởng. Những kết quả của việc tìm hiểu hai tác phẩm này cũng sẽ giúp ích cho việc giảng dạy văn học trung đại theo đặc trưng loại hình ở trường phổ thông, như khi dạy về văn bản Vào phủ Chúa Trịnh (Trích Thượng Kinh Ký Sự) của Lê Hữu Trác (Văn 11, Tập 1) hay nhiều tác giả khác trong văn học hiện đại như Nguyễn Tuân, Nam Cao, Hoàng Phủ Ngọc Tường… Hiện nay, văn bản Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh là một trong 90 thiên trong Vũ trung tuỳ bút được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở (Văn 9, Tập 1). Vì vậy, việc nghiên cứu tác phẩm này còn là một vấn đề có ý nghĩa thiết thực đối với người dạy và người học ở trong nhà trường. Bằng niềm kính trọng và sự ngưỡng mộ của hậu thế, nghiên cứu về Tang thương ngẫu lụcVũ trung tùy bút còn là cách để người viết được bày tỏ lòng tri ân đối với bậc tiền nhân đồng hương, đồng họ - Phạm Đình Hổ. Với những lý do trên đây khuyến khích chúng tôi lựa chọn đề tài: “Tang thương ngẫu lụcVũ trung tùy bút - Tính cách thể loại và hình tượng tác giả” làm vấn đề nghiên cứu cho luận văn của mình.

1.1. Lý Do Chọn Đề Tài Giá Trị Văn Học Sử Học 50

Nghiên cứu về Tang thương ngẫu lụcVũ trung tùy bút giúp ta hiểu rõ hơn về vị trí của truyện, kí Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX, đồng thời có cách nhìn nhận, đánh giá xác đáng hơn về văn xuôi giai đoạn này trong tiến trình vận động và phát triển của văn học dân tộc. Đồng thời, việc này còn góp phần nâng cao nhận thức về loại hình văn xuôi tự sự trung đại trên các bình diện như: hình thức thể loại và nội dung tư tưởng. Kết quả của việc tìm hiểu hai tác phẩm này cũng sẽ giúp ích cho việc giảng dạy văn học trung đại ở trường phổ thông, như khi dạy về văn bản Vào phủ Chúa Trịnh (Trích Thượng Kinh Ký Sự) của Lê Hữu Trác. Việc nghiên cứu tác phẩm này còn là một vấn đề có ý nghĩa thiết thực đối với người dạy và người học ở trong nhà trường.

1.2. Tổng Quan Nghiên Cứu Lịch Sử Vấn Đề và Các Công Trình 57

Hai thế kỉ đã trôi qua kể từ ngày Tang thương ngẫu lụcVũ trung tùy bút ra đời, đã có nhiều công trình nghiên cứu qua các thời đại. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu đều nằm ở dạng khái quát hoặc điểm qua một bình diện nào đó của tác phẩm. Dù chưa được sự quan tâm đúng mức vị trí của nó trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam, nhưng Tang thương ngẫu lụcVũ trung tùy bút cũng đã có một số nhà nghiên cứu chú ý tới. Trong phạm vi quan tâm của đề tài, chúng tôi xin điểm lại một số công trình, tài liệu có liên quan, làm cơ sở cho việc nghiên cứu tính cách thể loại và hình tượng tác giả trong Tang thương ngẫu lụcVũ trung tuỳ bút.

II. Thể Loại So Sánh Tang Thương Ngẫu Lục và Tùy Bút 59

Vấn đề phân chia thể loại tác phẩm văn học cũng rất phức tạp. Vì bên trong các loại còn chứa đựng hệ thống các thể khác nhau. Thể loại là những hình thức tồn tại cụ thể của văn học, chẳng hạn trong loại trữ tình có văn xuôi trữ tình và thơ trữ tình. Loại tự sự có thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn… Loại kịch có bi kịch, hài kịch, chính kịch… Thông thường có các tiêu chí cơ bản để phân chia thể loại văn học như sau: Tiêu chí hình thức lời văn được sử dụng để phân biệt thơ văn vần hay thơ văn xuôi; truyện văn xuôi hay truyện thơ; kịch thơ hay kịch nói… Tiêu chí dung lượng tác phẩm là căn cứ quan trọng để phân biệt thơ với trường ca, khúc ngâm; phân biệt truyện vừa , truyện dài, truyện ngắn, kịch một hồi với kịch nhiều hồi… Tiêu chí cảm hứng, tình điệu (tức dựa vào tính chất cảm xúc để làm cơ sở cho sự phân biệt giữa bi kịch với hài kịch, chính kịch, thơ (tụng ca) với thơ (châm biếm), ngụ ngôn với truyện cười… Tiêu chí nội dung thể loại có 3 nhóm thể tài chủ yếu là: lịch sử, đời tư và thế sự. Loại thể tài lịch sử bao gồm các tác phẩm khái quát và miêu tả các sự kiện lịch sử lớn lao có liên quan đến vận mệnh quốc gia dân tộc như Chiến tranh và hòa bình, Đất nước đứng lên… Thể tài thế sự bao gồm các tác phẩm hướng tới lý giải các phương thức và tính chất sinh hoạt dân sự, công cộng xã hội với những quan niệm về công lý, đạo đức nhân sinh v.v… Thơ Nguyễn Bính, thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương… đều chan chứa cảm hứng thế sự. Thể tài đời tư là những tác phẩm có ý thức tạo dựng đời sống và số phận của những cá nhân riêng biệt trong các mối quan hệ với môi trường xung quang. Văn học trung đại thường nghèo nàn yếu tố thể tài đời tư do cõi riêng của con người ít được khám phá. Thể tài đời tư có điều kiện được chú ý trong văn học hiện đại. Các thể tài trên không tồn tại tách biệt nhau mà đan cài, chuyển hóa vào nhau chặt chẽ trong cùng một tác phẩm. Những tác phẩm văn học lớn thường dung nạp trong nó nhiều thể tài khác nhau. Nghiên cứu thể loại văn học có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định đặc điểm loại hình của văn học và các đặc điểm ấy sẽ trực tiếp chi phối ý thức sáng tạo, phân tích và tiếp nhận văn học trên các phương diện nội dung và hình thức chỉnh thể của các tác phẩm văn học. Tuy nhiên việc phân chia thể loại chỉ có tính chất tương đối vì thể loại luôn biến đổi theo tiến trình phát triển của xã hội - lịch sử văn học. Trong khi đó tiêu chí phân loại rất đa dạng và không tránh khỏi sự tồn tại của các tác phẩm trung gian (truyện ngắn trữ tình hóa; truyện ngắn tiểu thuyết hóa; thơ tự sự…) khiến việc phân loại không thể tuyệt đối chính xác.

2.1. Đặc Điểm Thể Loại Truyện Truyền Kỳ vs. Tùy Bút 52

Thể loại văn học nào cũng có tính lịch sử - thời đại bởi lẽ chúng phát sinh và tồn tại trong những điều kiện lịch sử nhất định, nó biến mất hoặc chấm dứt sự tồn tại cũng do hoàn cảnh lịch sử đổi thay. Mỗi thể loại sẽ có thể đậm nét đặc trưng của thời đại, từ cách thể hiện hiện thực đến cách diễn đạt đều phụ thuộc vào ý thức hệ và thị hiếu người đọc. Tính lịch sử của thể loại văn học thể hiện ở chức năng của các thể loại và tương quan của chúng với nhau. Tính lịch sử chi phối hình hài, phẩm chất của các thể loại trong từng thời đoạn của cuộc hành trình để rồi từ đó tạo ra địa vị lịch sử đầy những thăng trầm cho mỗi thể loại.

2.2. Yếu Tố Thể Loại Nội Dung Hình Thức Cảm Hứng 58

Thể loại văn học nào cũng gắn liền với một kiểu ngôn ngữ, tâm lý và truyền thống văn hóa của một dân tộc nhất định. Vì thế, mỗi dân tộc thường có những thể loại riêng. Một số thể loại chỉ có ở văn học dân tộc này mà không có ở văn học dân tộc khác. Chẳng hạn như: phú, thơ luật, tiểu thuyết chương hồi ở Trung Quốc; thơ lục bát, truyện Nôm, hát nói ở Việt Nam, thơ hai-cư ở Nhật Bản… Dấu ấn dân tộc lưu đọng lại sâu sắc trong cấu trúc của các thể loại văn học. Nhưng cũng cần thừa nhận rằng văn học có tính quốc tế ở cả phương diện thể loại. Có nhiều thể loại là sản phẩm sáng tạo chung của cả nhân loại song được vận dụng sáng tạo trong phạm vi của một dân tộc cụ thể, các thể loại ấy sẽ được “dân tộc hóa” ít nhiều trên một số phương diện, hoặc là ở nội dung, chức năng hoặc là ở thi pháp thể loại cho phù hợp với bản sắc của từng dân tộc.

III. Tác Giả Phong Cách Nguyễn Dữ Phạm Đình Hổ 57

Quá trình tạo ra tác phẩm văn học, nghệ thuật, các công trình khoa học, kĩ thuật là quá trình hoạt động sáng tạo của cá nhân. Bởi vậy, tác giả của các tác phẩm văn học, nghệ thuật, các công trình khoa học, kĩ thuật (gọi chung là tác phẩm) chỉ có thể là những con người cụ thể khi họ đã bằng lao động sáng tạo của mình để trực tiếp tạo ra tác phẩm. Theo Phạm Văn Tuyết trong bài “Khái niệm về tác giả và đồng tác giả của tác phẩm” trên Tạp chí Luật học số 1/2009 thì định nghĩa: “Tác giả là người trực tiếp lao động sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học để tạo ra toàn bộ hoặc một phần tác phẩm thuộc một trong các lĩnh vực đó”. Như vậy, có thể hiểu tác giả văn học là người làm ra tác phẩm nghệ thuật ngôn từ như các bài thơ, bài báo, cuốn sách, vở kịch. Tên tác giả (bao gồm cả tên thật hoặc bút danh) được nêu cùng tên tác phẩm. Theo đó người đọc có thể bắt gặp các thuật ngữ riêng biệt như văn hào, thi hào, tác gia, cũng thường gặp những khái niệm nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà viết kịch, nhà tiểu thuyết (tiểu thuyết gia), cây bút.

3.1. Hình Tượng Tác Giả Quan Điểm Trần Đình Sử 54

Trong cuốn Dẫn luận Thi pháp học, Trần Đình Sử dành một chương lấy tên là “Tác giả, kiểu tác giả”, ông viết: “Hình tượng tác giả, kiểu tác giả là những phạm trù thi pháp học vì tác giả là trung tâm tổ chức nội dung hình thức, mang cảm quan thế giới đặc thù, trung tâm tổ chức lại ngôn từ theo nguyên tắc nghệ thuật”. Ông cũng dẫn ra những lời của các đại gia nổi tiếng thế giới “Tác giả biểu hiện chính mình” (Goethe), “Hình tượng tác giả là trung tâm của phong cách ngôn ngữ” (Vinogradov). Ông phân biệt hình tượng tác giả với nhân vâ ̣t người kể chuyện, phân biệt tác giả tiểu sử (người “thật”) với hình tượng tác giả (với sự biểu hiện mình như người phát hiện, khám phá, tiến bộ trong tác phẩm). Nhưng đấy là nói hình ảnh - hay hình tượng - tác giả được người đọc “hình dung” khi đọc tác phẩm. Đó không phải là thứ “hình tượng” xuất hiện tường minh, hiển ngôn bằng các chi tiết và ngôn ngữ như hình tượng các nhân vật kể cả nhân vật “người kể chuyện” trong tác phẩm tự sự hay “nhân vật trữ tình” trong tác phẩm trữ tình. Cái gọi là “hình tượng tác giả” ở tác phẩm không “hiện diện” ở tác phẩm.

3.2. Vai Trò Tác Giả Chủ Thể Tự Sự trong Tác Phẩm 58

Trong Giáo trình Dẫn luận Tự sự học, tác giả Lê Thời Tân định nghĩa : “tác phẩm tự sự là những sáng tác chứa đựng trong nó câu chuyện cùng người kể”. Hiểu theo cách khái quát thì đó là một nội dung tự sự và một chủ thể tự sự. Đây chính là một đặc trưng cơ bản nhất khu biệt tác phẩm văn học tự sự với các tác phẩm thuộc các thể tài văn học khác. Quan hệ giữa chủ thể tự sự và câu chuyện kể ra là một mối quan hệ bản chất nhất và cũng là mối quan hệ phức tạp nhất của truyện kể. Nó cấu thành những bối cảnh tự sự cụ thể, mà tác giả Lê Thời Tân cho rằng có ba loại bối cảnh tự sự cơ bản: Bối cảnh tự sự ngôi nhân xưng thứ nhất- tôi để kể nghĩa là chủ thể tự sự tồn tại trong lòng thế giới câu chuyện. Tác giả đứng trên cùng một bình diện với các nhân vật xung quanh mình. Bối cảnh tự sự tác giả. Người kể tồn tại bên ngoài cái thế giới câu chuyện được kể đến, tác giả quan sát nó từ nhiều điểm nhìn khác nhau và tất cả các điểm nhìn này đều không cùng nằm trên một bình diện với các nhân vật trong câu chuyện. Bối cảnh tự sự nhân vật. Trong bối cảnh tự sự này, hình tượng một người phản ánh đã thay thế vào vị trí người kể cụ thể.

IV. Bối Cảnh Văn Xuôi Lê Mạt Nguyễn Sơ Ảnh Hưởng 59

Văn học phản ánh hiện thực, giữa văn học và hiện thực có mối quan hệ chặt chẽ mang tính tất yếu. Để hiểu nội dung trong Vũ trung tùy bút cùng Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án, chương này chúng tôi tìm hiểu về hoàn cảnh lịch sử - xã hội thời bấy giờ. Lịch sử luôn có tác động lớn đến hệ tư tưởng và đời sống văn học. Lịch sử trung đại Việt Nam gắn liền với công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc từ tay phong kiến phương Bắc. Theo đó, ở sơ kỳ lịch sử trung đại, văn học ngợi ca những người anh hùng vĩ đại làm rạng danh dân tộc và ca ngợi xã hội tốt đẹp, những thời khắc đất nước thanh bình, thịnh trị. Tuy nhiên, từ thế kỷ XV trở đi, xã hội phong kiến đã có dấu hiệu rạn nứt và suy vong, và thế kỷ XVIII - XIX có thể được xem là giai đoạn nhiều thăng trầm nhất trong lịch sử trung đại Việt Nam. Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án sinh ra cuối đời Cảnh Hưng. Thời đại đã khơi nguồn cảm hứng cho họ chấp bút. Sự thật xảy ra nơi phủ chúa, kinh vua, nên tác giả cũng không thể mũ ni che tai. Theo Trúc Khê: “Vì nghĩ là bộ sách xưa, có bổ trợ cho nền sử học nên chúng tôi đem phiên dịch in ra”. Đó là một thời đại bão táp! Cơn giông tố đã tích tụ từ mấy trăm năm kể từ ngày Lê Duy Ninh (sau này là ông vua Lê Trung Hưng đầu tiên) được Nguyễn Kim đưa lên ngôi từ năm 1533 với danh nghĩa “Phù Lê diệt Mạc”, kể từ đó cho đến năm 1786 xã hội phong kiến Việt Nam có biết bao biến động dữ dội.

4.1. Bối Cảnh Lịch Sử Xã Hội Lê Mạt Nguyễn Sơ 55

Trong Giao lễ (Lễ tế giao) tác giả chỉ rõ: “ Từ đời Trung hưng trở về sau, quyền chính về cả chúa Trịnh, vua Lê chỉ ngồi giữ hư vị, duy đến ngày xuân thủ thì mới ra dự lễ tế giao”. Đúng như lời Alêcxăngđrơ Rốt nhận định trong cuốn Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam như sau: “Cái xứ này thực là một nước quân chủ thực sự, hơn nữa lại có hai vua, nhưng một gọi là vua thì chỉ có tên mà thôi. Còn ông chúa kia thì có đủ quyền hành”. Chúa Trịnh tìm mọi cách lấn át hoàng tộc, thâu tóm quyền hành. Vua Lê chỉ còn là cái bóng hư vị. Mâu thuẫn giữa vua và chúa ngấm ngầm diễn ra. Sự khủng hoảng không chỉ ở chúa Trịnh Đàng Ngoài mà còn diễn ra với các chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Vũ trung tùy bútTang thương ngẫu lục là một bức tranh tả thực về cuộc sống xã hội thời Lê mạt đầy náo loạn, rối ren, phức tạp.

4.2. Kinh Tế Xã Hội Đời Sống trong Tang Thương Ngẫu Lục 58

Bức tranh hiện thực đời sống trong xã hội Việt Nam thời kỳ cuối Lê đầu Nguyễn qua Vũ trung tuỳ bút không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cuộc sống lầm than cơ cực của nhân dân do hạn hán, lụt lội, do tham quan ô lại. Cuộc sống xã hội không còn là những làng xóm, vùng quê với những con người vô danh, những đám đông mà tác giả đã quan tâm đến cả cuộc sống thị dân Thăng Long ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII. Dưới cái nhìn của tác giả, hiện thực xã hội được khắc lên như một bức tranh u ám, dự báo một triều đại sắp suy vong.

V. Giá Trị Tác Phẩm Tang Thương Tùy Bút Ngày Nay 57

Tóm lại, bối cảnh lịch sử xã hội nước ta thời kì cuối Lê đầu Nguyễn là sự khủng hoảng, bế tắc của nhà nước phong kiến và sự sụp đổ của ý thức hệ thống trị; là sự vùng dậy của quần chúng nông dân bị áp bức. Có thể thấy giai đoạn lịch sử bão táp đầy biến động của Việt Nam thời Lê mạt Nguyễn sơ qua con mắt của Tùng Niên, Kính Phủ hiện lên thật sắc nét. Bức tranh xã hội - lịch sử Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVIII - XIX như một thôi thúc nội tại cần được ghi lại. Chính sự lịch sử khiến người cầm bút luôn trăn trở, tìm tòi, thử nghiệm và dĩ nhiên không phải bằng những lý thuyết, những tài liệu sử học. mà bằng những tác phẩm nghệ thuật cụ thể. Hai danh sĩ Phạm, Nguyễn đã thu vào cõi mắt tang thương hiện thực cuộc sống bị đảo lộn giá trị văn hóa, phong tục lễ nghi bị xuyên tạc, nhân tình thế thái suy đồi và tái hiện một hiện thực lịch sử đặc biệt nhất trong lịch sử trung đại đang chuyển dần sang một bước ngoặt mới.

5.1. Thành Tựu Văn Xuôi Kí Sự Lịch Sử Phê Phán 52

Nền văn xuôi Việt Nam đã xuất hiện những tác phẩm giá trị, có tính chất phê phán hiện thực xã hội phong kiến thối nát, già cỗi…, nổi bật là tập đoàn phong kiến Lê- Trịnh. Và từ trước tới nay, các nhà nghiên cứu dường như mới chỉ tập trung đi sâu tìm hiểu, khẳng định đóng góp, giá trị của những tác phẩm có quy mô lớn như Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái, Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác mà chưa đi sâu nghiên cứu đóng góp, giá trị, nét đặc sắc riêng của những tác phẩm văn xuôi tự sự có quy mô vừa và nhỏ như Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án…Tìm hiểu những tác phẩm này sẽ giúp chúng ta có cách nhìn toàn diện, đánh giá đầy đủ hơn về thành tựu của văn xuôi tự sự Việt Nam thời cuối Lê đầu Nguyễn trong nền văn học trung đại. Đó là điều mà chúng tôi muốn đề cập đến luận văn này, nhằm góp tiếng nói nhỏ bé trong việc hiểu và cảm tác phẩm một cách đầy đủ hơn.

5.2. Tìm Hiểu Tác Giả Phạm Đình Hổ Nguyễn Án và Sự Nghiệp 58

Phạm Đình Hổ ngay từ lúc còn bé đã ôm ấp cái mộng làm văn chương. Cuối đời Chiêu Thống ông có vào học ở trường Quốc Tử Giám, thi đậu sinh đồ, nhưng thời thế lúc bấy giờ không yên, ngai vàng của vua Lê bị lung lay. Gặp buổi loạn lạc, vua Lê Chiêu Thống cho người chạy sang cầu cứu nhà Thanh, rồi triều đình Lê Trịnh sụp đổ, nhà Tây Sơn lên cầm quyền…Suốt thời gian này, Phạm Đình Hổ sống đời hàn nho, dạy học ở quê. Đến khi Gia Long lên ngôi, dần dần khôi phục việc học hành thi cử, Phạm Đình Hổ có mang lều chõng đi thi. Mặc dù tài cao, học rộng, biết nhiều kinh sử nhưng ông đi thi Hương 3 lần nhưng đều không đỗ.

VI. Kết Luận Tang Thương Ngẫu Lục Tùy Bút Tương Lai 58

Như vậy có thể nhận thấy Nguyễn Án và Phạm Đình Hổ cùng sinh ra và lớn lên trong một giai đoạn xã hội có nhiều biến động. Họ có nhiều nét tương đồng về đường đời và đường văn; giống nếp cảm, nếp nghĩ; cùng chung số phận trước các biến cố lịch sử nên sớm ý hợp tâm đầu để rồi họ cùng phản ánh trong Tang thương ngẫu lụcVũ trung tuỳ bút. Tang thương ngẫu lục là tác phẩm văn xuôi bằng chữ Hán do đôi bạn thân là Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án cùng hợp soạn. Những thiên trong Tang thương ngẫu lục hai ông viết vào khoảng những năm cuối Lê (1786) đến đầu Gia Long (1801). Ban đầu Tang thương ngẫu lục chỉ có bản viết tay trong một thời gian gần trăm năm mãi đến năm Bính Thân(1896), niên hiệu Thành Thái thứ 8, ông nghè Gia Xuyên Đỗ Văn Tâm đang là Tổng đốc Hải Dương mới đem quyên tiền khắc ván, từ đó mới có bản in truyền ở đời. Sau được in bản tiếng Việt do Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch (Nxb Tân Dân, 1943).

6.1. Nội Dung Tác Phẩm Xã Hội Loạn Lạc Tâm Sự 50

Tang thương ngẫu lục ghi lại bức tranh tả thực về cuộc sống xã hội thời Lê mạt đầy náo loạn, rối ren, phức tạp. Ra đời trong cơn bão táp lịch sử với biết bao biến cố của cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn. Điển hình của nó là cuộc sống xa hoa, vương giả trong phủ chúa. Cảnh dân tình khổ cực, giặc giã liên miên với thái độ tố cáo mạnh mẽ. Bên cạnh đó, trong Tang thương ngẫu lục cũng kể những mẩu chuyện về các vị vua anh minh như Lê Thánh Tông, Lê Thần Tông; các vị danh hiền như Chu Văn An, Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão…; các vị quan thanh liêm như Thượng thư Nguyễn Công Hãng, Lê Anh Tuấn, Tể tướng Nguyễn Duy Thời; các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Bá Lân, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm…cảm quan trước thiên nhiên Chùa Tiên Tích, Núi Phật Tích, Đền Trấn Vũ, Tháp Báo Thiên… và cả những sự tích hoang đường kỳ lạ được lưu truyền trong dân gian.

6.2. Giá Trị Tác Phẩm Dấu Ấn Văn Hóa Lịch Sử 55

Trần Đình Việt có nhận xét: “Yếu tố bi hài của xã hội hằn sâu vào tác phẩm. Chuyện cũ, mới, thật giả, hay dở lan tràn khắp nước trong dân gian mà tập trung nhiều nhất vẫn là nơi kinh thành, góc chợ, chốn nha lại, đường phủ. Những điều mà Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án chép vào sách chỉ là trong muôn sự thật, và cũng là “ngẫu nhiên”. Ngẫu nhiên mà lắm chuyện tang thương. Nên sự tang thương càng thêm đau đớn, khó nguôi”

02/10/2025
Luận văn thạc sĩ tang thương ngẫu lục và vũ trung tùy bút tính cách thể loại và hình tượng tác giả

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các khái niệm liên quan 1. Thể loại văn học 1. Khái niệm thể loại Tác phẩm văn học là một chỉnh thể thống nhất toàn vẹn giữa các yếu tố hợp thành trong đó thể loại là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm.

Ứng với một loại nội dung là một loại hình thức, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể. Thể loại là một trong những phạm trù cơ bản nhất của sáng tác và tiếp nhận văn học. Không một văn bản văn học nào lại không thuộc về một loại dưới dạng một thể nhất định nào đó. Nhà văn khi đứng trước một hiện tượng của đời sống, muốn chiếm lĩnh nó, tất yếu phải lựa chọn một phương thức thể hiện phù hợp.

Đến lượt người tiếp nhận cũng vậy, phải theo đường dẫn của thể loại để khám phá, lí giải tác phẩm. Như vậy thể loại là sản phẩm của quá trình kiếm tìm hình thức phản ánh hiện thực, nó do thực tại cuộc sống trực tiếp “đặt hàng” với nhà văn. Khái niệm thể loại chỉ dạng thức một chỉnh thể của tác phẩm văn học. Đấy là các dạng thức ngôn ngữ được tổ chức thành các hình thức nghệ thuật riêng biệt, thể hiện cách cảm nhận và thái độ, tình cảm của con người về các hiện tượng của đời sống.

Nói đến thể loại là nói đến nguyên tắc tổ chức tác phẩm, phương thức thể hiện thực tại và loại hình giao tiếp thẩm mỹ. Với tư cách là một phương thức thể hiện thực tại, mỗi thể loại là kết quả của một phương thức chiếm lĩnh thực tại khác nhau, thể hiện những quan hệ thẩm mỹ khác nhau, mang những khả năng khác nhau trong việc biểu hiện thực tại. Các thể loại trữ tình phù hợp với kiểu nhận thức đối tượng bằng xúc cảm suy nghĩ, chiêm nghiệm. Các thể loại tự sự tìm được ưu thế phản ánh từ nhu cầu nhận thức các đối tượng diễn biến sinh động trong những hoàn cảnh không gian và thời gian nhất định.

Các thể loại kịch đặc biệt phù hợp với hình thức download by : skknchat@gmail.com 12 nhận thức thế giới đối tượng theo lối “mục sở thị” trực tiếp các xung đột và mâu thuẫn. Với tư cách là một loại hình giao tiếp thẩm mỹ, mỗi thể loại văn học là một kênh giao tiếp riêng với bạn đọc, đòi hỏi ngôn ngữ riêng, nguyên tắc riêng, phương thức và kinh nghiệm riêng. Giao tiếp thơ không giống với giao tiếp kịch, giao tiếp bằng tiểu thuyết rất khác với giao tiếp qua tác phẩm ký hay chính luận… Không có cách đọc chung nhất áp đặt cho các tác phẩm thuộc các hình thức thể loại khác nhau. Bằng việc thông tin tên thể loại, nhà văn muốn dự báo cho người đọc các phạm vi cuộc sống được quan tâm, cách tiếp cận và quan sát đối với nó, hướng họ vận dụng các kinh nghiệm nhất định vào việc tiếp nhận tác phẩm.

Thậm chí tên thể loại đã gắn kết thành bộ phận không thể tách rời với tên tác phẩm: Bình Ngô đại cáo, Thượng kinh ký sự, Hoàng Lê nhất thống chí, Truyền kỳ mạn lục, Chinh phụ ngâm. Tùy thuộc đặc trưng của mình, mỗi thể loại có sự thống nhất, quy định lẫn nhau giữa các yếu tố đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng và hình thức nhân vật, hình thức kết cấu, hình thức lời văn. Tổ chức truyện là tổ chức cốt truyện thông qua hệ thống các biến cố, sự kiện nhân vật, các thành phần trần thuật… Tổ chức thơ là tổ chức cấu tứ thơ thông qua cảm xúc, hình ảnh, hình tượng, bố cục dòng thơ, câu thơ, khổ thơ, đoạn thơ… Tổ chức tác phẩm kí sự là nghệ thuật liên kết sự kiện, tạo dựng điểm nhìn của chủ thể trần thuật, bố trí nhân chứng, số liệu, khách quan xác thực…Quy luật tổ chức tác phẩm theo đặc trưng từng thể loại cũng là một khía cạnh xác định quy luật loại hình của tác phẩm, tạo cho tác phẩm văn học một hình thức tồn tại chỉnh thể tương đối ổn định khu biệt với tác phẩm thuộc các thể loại khác. Thể loại mang đặc trưng của loại.

Các thể không cùng loại dĩ nhiên là rất khác nhau, nhưng các thể cùng loại vẫn khác nhau. Sự khác nhau này thể hiện trên nhiều phương diện: hoặc ở hình thức lời văn (thơ, văn xuôi…); hoặc ở dung lượng ngôn từ (truyện ngắn, truyện dài); hoặc ở nội dung cảm hứng (bi kịch, hài kịch…). Rõ ràng thể loại văn học mang trong mình nó sự thống nhất giữa một download by : skknchat@gmail.com 13 loại nội dung với một dạng hình thức văn bản và phương thức chiếm lĩnh đời sống. Người nghệ sỹ khi sáng tạo văn học “thường sử dụng các phương pháp chiếm lĩnh đời sống khác nhau, thể hiện những quan hệ thẩm mĩ khác nhau đối với hiện thực, có những cách xây dựng hình tượng khác nhau.

Các phương thức ấy ứng với những hình thức hoạt động nhận thức khác nhau của con người - hoặc trầm tư, chiêm nghiệm, hoặc qua biến cố liên tục, hoặc qua xung đột… làm cho tác phẩm văn học bao giờ cũng có sự thống nhất quy định lẫn nhau về các loại đề tài, cảm hứng, hình thức nhân vật, hình thức kết cấu và hình thức lời văn…Đó là cơ sở khách quan của sự tồn tại thể loại văn học và cũng là điểm xuất phát để xây dựng nguyên tắc phân chia thể loại văn học” [9; tr. Tính chất của thể loại Thể loại văn học nào cũng có tính lịch sử - thời đại bởi lẽ chúng phát sinh và tồn tại trong những điều kiện lịch sử nhất định, nó biến mất hoặc chấm dứt sự tồn tại cũng do hoàn cảnh lịch sử đổi thay. Mỗi thể loại sẽ có thể đậm nét đặc trưng của thời đại, từ cách thể hiện hiện thực đến cách diễn đạt đều phụ thuộc vào ý thức hệ và thị hiếu người đọc. Như các thể loại văn học trung đại phải đáp ứng đặc trưng: Tính sùng cổ, tính phi ngã, sử dụng điển tích, điển cố.

Tính lịch sử của thể loại văn học thể hiện ở chức năng của các thể loại và tương quan của chúng với nhau. Tính lịch sử chi phối hình hài, phẩm chất của các thể loại trong từng thời đoạn của cuộc hành trình để rồi từ đó tạo ra địa vị lịch sử đầy những thăng trầm cho mỗi thể loại. Những khái quát về sự biến thiên vị thế và tiềm năng của các thể loại như vậy đã chứng tỏ rằng lịch sử chính là nguồn lực quyết định những thăng trầm số phận của các thể loại. Văn học là sản phẩm sáng tạo tinh thần của mỗi dân tộc, thể loại văn học tất yếu cũng mang tính dân tộc.

Thể loại văn học nào cũng gắn liền với một kiểu ngôn ngữ, tâm lý và truyền thống văn hóa của một dân tộc nhất định. Vì thế, mỗi dân tộc thường có những thể loại riêng. Một số thể loại chỉ có ở văn học dân tộc này mà không có ở văn học dân tộc khác. Chẳng hạn như: phú, thơ luật, tiểu thuyết chương hồi ở Trung Quốc; thơ lục bát, truyện Nôm, hát nói ở Việt Nam, download by : skknchat@gmail.com 14 thơ hai-cư ở Nhật Bản…Dấu ấn dân tộc lưu đọng lại sâu sắc trong cấu trúc của các thể loại văn học.

Nhưng cũng cần thừa nhận rằng văn học có tính quốc tế ở cả phương diện thể loại. Có nhiều thể loại là sản phẩm sáng tạo chung của cả nhân loại song được vận dụng sáng tạo trong phạm vi của một dân tộc cụ thể, các thể loại ấy sẽ được “dân tộc hóa” ít nhiều trên một số phương diện, hoặc là ở nội dung, chức năng hoặc là ở thi pháp thể loại cho phù hợp với bản sắc của từng dân tộc. Văn học là phương tiện kí thác tâm hồn của dân tộc nên sẽ không có gì trở ngại nếu cần phải thống kê ra những dấu hiệu tâm thức văn hóa của mỗi dân tộc qua hệ thống mô típ nghệ thuật, các quan niệm thẩm mỹ, phong tục tập quán…đặc trưng của mỗi dân tộc từ văn học dân gian đến văn học hiện đại. Nghĩa là có thể khám phá nỗi niềm, sở nguyện và tâm thức văn hóa riêng của mỗi dân tộc qua chính hệ thống thể loại mà dân tộc đó sử dụng và khai thác qua quá trình lịch sử văn học.

Thể loại còn có tính quy luật loại hình. Biểu hiện ở tính chất truyền thống, tương đối ổn định, ít phát triển. Điều này có căn nguyên của nó. Thể loại là sản phẩm được hình thành qua quá trình lịch sử lâu dài, nó được khái quát và cô đúc lại tồn tại trong những hình thức ổn định bền vững.

Không có một thể loại nào có cuộc hành trình số phận chỉ trong vài ba năm mà ít ra cũng có tuổi đời vài thế kỷ, thậm chí không ai tính được tuổi đời của nó là mấy vạn năm hay mấy triệu năm? chẳng hạn như lục bát của ta. Các thế hệ nhà văn khi cầm bút sáng tác đều phải tuân theo những những chuẩn mực đã định sẵn từ bao năm theo những quy cách truyền thống của thể loại như một giá trị mẫu mực, bất biến. Trong thực tế chẳng có thể loại văn học nào được vận dụng sáng tạo theo ngẫu hứng tùy tiện của các cá nhân. Nhưng cũng do quy luật không ngừng đổi mới và sáng tạo của văn học, thể loại văn học cũng luôn phát sinh, biến đổi để thích ứng với nội dung hiện thực cuộc sống.

Đây là quy luật phát triển theo hình xoắn ốc của vật chất. Trước sự thay đổi mạnh mẽ của hiện thực cuộc sống, của nhu cầu xã hội cũng như bản chất của hoạt động sáng tác là quá trình sáng tạo có tính cá thể đòi hỏi nhà văn luôn download by : skknchat@gmail.com 15 phải tìm tòi, đổi mới, thể hiện dấu ấn cá nhân thì những thể loại không có khả năng thích ứng được với môi sinh văn hóa mới sẽ bị triệt tiêu để nhường chỗ cho sự ra đời của các thể loại văn học mới có ưu thế hơn. Cần lưu ý rằng sự cách tân đổi mới của thể loại không diễn ra trong sự đoạn tuyệt hoàn toàn với truyền thống vốn có mà chúng chỉ chuyển hóa phẩm chất của mình để ký sinh vào các thể loại khác. Sự biến đổi những đặc trưng về hình thức và nội dung của thể loại là để phù hợp với nội dung tư tưởng của người nghệ sĩ trước yêu cầu của thời đại.

Phân chia thể loại tác phẩm văn học Vấn đề phân chia thể loại tác phẩm văn học cũng rất phức tạp. Vì bên trong các loại còn chứa đựng hệ thống các thể khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ