Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng hoạt động phân tích tài chính tại Công ty TNHH khoáng sản Long Anh Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt dộng phân tích tài chính tại Công ty TNHH khoáng sản Long Anh CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HOẠT DONG PHAN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Tống quan về phân tích tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm về tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm về tài chính doanh nghiệp Theo Trần Thị Thanh Tú, giáo trình Phân tích tài chính của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội: “Tai chính doanh nghiệp là hoạt động liên quan đến việc huy động hình thành nên nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn đó đê tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản của doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu dé ra.” Qua khái niệm trên ta có thé thấy TCDN liên quan đến ba loại quyết định chính: quyết định đầu tư, quyết định NV và quyết định phân phối lợi nhuận nhằm đạt mục tiêu đề ra là tối đa hóa giá trị DN.
Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp Theo Trần Thị Thanh Tú, giáo trình Phân tích tài chính của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội: “Phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình đi sâu nghiên cứu nội dung, kết cau và mỗi ảnh hưởng qua lại của các chỉ tiêu trên BCTC để có thé đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua việc so sánh với các mục tiêu mà doanh nghiệp đã dé ra hoặc so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành nghề, từ đó đưa ra quyết định và các giải pháp quản lý phù hợp. Tam quan trọng của hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp Việc phân tích tình hình TCDN có vai trò vô cùng quan trọng không chỉ đối với bản thân chủ DN mà cả các đối tượng bên ngoài có liên quan đến tài chính của DN. Mỗi đối tượng quan tâm theo giác độ khác nhau, sử dụng thông tin được phân tích để có những quyết định phù hợp với mục đích họ quan tâm. Cụ thê: > Đối với nhà quản lý: Hơn ai hết, chủ DN là người quan tâm hàng đầu đến tình hình TCDN của DN mình.
Phân tích TCDN giúp nha quan lý đạt những mục tiêu sau: - Các nhà quản lý sẽ cân nhắc dé có quyết định nên tạo vốn băng cách đi vay hay gọi vốn cô phần. - Phân bồ vốn đầu tư như thé nào dé đạt mục tiêu đã dé ra mà van bảo toàn von. - Tình hình HĐKD của DN hiện nay có hiệu quả hay không? Lợi nhuận đang ở mức nào? Hiện tại có đang bị lỗ hay không? Trong tương lai có thể gặp phải những thuận lợi hay khó khăn nào? - DN liệu có đảm bao được kha năng thanh toán đối với các khoản nợ khi đáo hạn hay không? - Ngoài ra, PTTC không chỉ giúp làm sáng tỏ chính sách tài chính mà còn cả các chính sách khác trong DN. > Đối với các nhà dau tu: Các nhà đầu tư là những người giao vốn của mình cho DN quản lý sử dụng nhằm tìm kiếm lợi nhuận và gia tăng giá trị của khoản vốn đó.
Tuy nhiên việc đầu tư này cũng luôn đi kèm với những rủi ro và có thể khiến cho các nhà đầu tư phá sản bất cứ lúc nào. Bởi thế, trước khi giao vốn của mình cho DN nào đó thì nhà đầu tư sẽ quan tâm đến thời gian hoàn vốn, khả năng sinh lời và rủi ro có thể gặp phải. PTTC giúp cho các nhà đầu tư có cái nhìn tổng quan về tình hình tài chính của DN, đánh giá được tiềm năng phát triển của DN để có quyết định đầu chính xác nhất. > Đối với các nhà dau tư tín dụng: Các nhà đầu tư tín dụng là những người cho DN vay vốn dé đáp ứng nhu cầu vốn cho HDSXKD.
Cái ma họ quan tâm là khả năng hoàn trả tiền vay (bao gồm cả gốc lẫn lãi) của DN. Do đó, qua phân tích TCDN, họ sẽ xác định được DN có đảm bảo được khả năng thanh toán nợ khi đáo hạn hay không? Và khả năng sinh lợi của DN là bao nhiêu? > Đối với các cơ quan chức năng: Thông qua số liệu trên BCTC, các cơ quan quản lý nhà nước sẽ xác định được các khoản nghĩa vụ của đơn vi đó phải thực hiện với Nhà nước; Xem xét DN có thực hiện đúng các chế độ, chính sách liên quan tới DN mà nhà nước đề ra hay không? > Đối với những người hưởng lương trong doanh nghiệp: Người hưởng lương trong DN là những người ma thu nhập của họ chịu ảnh hưởng trực tiếp từ kết quả HDKD của DN. Biết được tình hình TCDN sẽ giúp người lao động yên tâm dốc sức vào HDSXKD của DN và sẽ gắn bó lâu dài với DN. Từ những vấn đề trên, ta thấy: Hoạt động phân tích TCDN là công cụ hữu ích giúp xác định giá trị kinh tế, đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu của DN.
Từ những kết quả phân tích sẽ tìm ra được nguyên nhân khách quan và chủ quan, giúp cho từng đối tượng có liên quan lựa chọn và đưa ra những quyết định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm. Nội dung công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 1. Tổ chức phân tích tài chính doanh nghiệp Một DN muốn tiến hành phân tích tình hình TCDN thì trước tiên DN phải tiến hành tổ chức công tác PTTC. Tổ chức công tác phân tích TCDN tức là DN xác định phòng ban hay bộ phận nào sẽ chịu trách nhiệm thực hiện công tác PTTC, xác định được mục tiêu, quy trình, kế hoạch, phạm vi, thông tin sử dụng, phương pháp phân tích và nội dung cần phân tích.
Ngoài ra còn cần xác định thời gian sẽ tiến hành phân tích, việc xác định thời gian tiễn hành phân tích sẽ phụ thuộc vào các yếu tố như: mục tiêu phân tích, việc thu nhập thông tin dùng trong phân tích, thời gian lập BCTC. Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp Có nhiều phương pháp phân tích được sử dụng để phân tích tình hình TCDN, mỗi phương pháp có ưu điểm và hạn chế riêng, nhưng trên thực tế trong hoạt động PTTC người ta hay sử dụng các phương pháp sau: 1. Phương pháp so sánh “So sánh là phương pháp được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong phân tích kinh tế nói chung và phân tích tài chính nói riêng. Mục đích của so sánh là làm rõ sự khác biệt hay những đặc trưng riêng có và tìm ra xu hướng, quy luật biến động của đối tượng nghiên cứu; từ đó, giúp cho các chủ thé quan tâm có căn cứ dé đề ra quyết định lựa chọn.
Khi sử dụng phương pháp so sánh, các nhà phân tích cần chú ý một số vấn đề sau đây: + Điều kiện so sánh được của chỉ tiêu: Chỉ tiêu nghiên cứu muốn so sánh được phải đảm bảo thống nhất về nội dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán, thống nhất về thời gian và đơn vị đo lường. + Gốc so sánh: Gốc so sánh được lựa chọn có thê là gốc về không gian hay thời gian, tuỳ thuộc vào mục dich phân tích. Về không gian, có thé so sánh đơn vi này với đơn vị khác, bộ phận này với bộ phận khác, khu vực này với khu vực khác. Việc so sánh về không gian thường được sử dụng khi cần xác định vị trí hiện tại của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh, so với số bình quân ngành, bình quân khu vực.
Cần lưu ý rằng, khi so sánh về mặt không gian, điểm gốc và điểm phân tích có thé đổi chỗ cho nhau mà không ảnh hưởng đến kết luận phân tích. Về thời gian, gốc so sánh được lựa chọn là các kỳ đã qua (kỳ trước, năm trước) hay kế hoạch, dự toán. Cụ thé: - Khi xác định xu hướng và tốc độ phát triển của chỉ tiêu phân tích, gốc so sánh được xác định là trị số của chỉ tiêu phân tích ở kỳ trước hoặc hàng loạt kỳ trước (năm trước). Lúc này sẽ so sánh trị số chỉ tiêu giữa kỳ phân tích với trị số chỉ tiêu ở các kỳ gốc khác nhau; - Khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra, sốc so sánh là trị số kế hoạch của chỉ tiêu phân tích.
Khi đó, tiễn hành so sánh giữa trị số thực tế với trị số kế hoạch của chỉ tiêu nghiên cứu. - Khi đánh giá vị thế của doanh nghiệp trong ngành, đánh giá năng lực cạnh tranh thường so sánh chỉ tiêu thực hiện của doanh nghiệp với bình quân chung của ngành hoặc so với chỉ tiêu thực hiện của đối thủ cạnh tranh + Các dạng so sánh: Các dạng so sánh thường được sử dụng trong phân tích là so sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tương đối So sánh bằng số tuyệt đối: phan ánh qui mô của chỉ tiêu nghiên cứu nên khi so sánh bằng số tuyệt đối, các nhà phân tích sẽ thấy rõ được sự biến động về qui mô của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ (điểm) phân tích với kỳ (điểm) gốc. So sánh bằng số tương đối: Khác với số tuyệt đối, khi so sánh bằng số tương đối, các nhà quản lý sẽ nắm được kết cấu, mỗi quan hệ, tốc độ phát triển, xu hướng biến động, quy luật biến động của các chỉ tiêu kinh tế. Trong phân tích tài chính, các nhà phân tích thường sử dụng các loại số tương đối sau: - $6 tương đói động thái: Dùng dé phản ánh nhịp độ biến động hay tốc độ biến động của chỉ tiêu và thường dùng dưới dạng số tương đối định gốc [có định kỳ gốc: yi/y0 (i = 1, n)] và số tương đối liên hoàn [thay đổi kỳ gốc: y (+ 1)/yi (i = 1,n)].
- Số tương đối điều chỉnh: Sỗ tương đối điều chỉnh phản ánh mức độ, xu hướng biến động của mỗi chỉ tiêu khi điều chỉnh một số nhân tố nhất định trong từng chỉ tiêu phân tích về cùng một thời kỳ nhằm đưa phạm vi so sánh hep hon, giảm được sự khập khiéng của phương pháp so sánh. Ví dụ: khi đánh giá sự biến động của doanh thu bán hàng điều chỉnh theo số lượng tiêu thụ thực tế, đánh giá xu hướng biến động của giá trị sản lượng tính theo giá cô định của Inăm nào đó. Phương pháp phân tích tỷ số “Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực của các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính. Sự biến đổi các tỷ lệ, cố nhiên là sự biến đổi của các đại lượng tài chính.