Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHỆP 1 c 1. PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm phân tích TCDN Phân tích trong lĩnh vực tự nhiên được hiểu là sự chia nhỏ sự vật hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành của sự vật hiện tượng đó như phân tích các chất hóa học bằng những phản ứng, phân tích các vi sinh vật bằng kính hiển vi. Còn trong lĩnh vực kinh tế xã hội, các hiện tượng cần phân tích chỉ tồn tại bằng những khái niệm trừu tượng.
Do đó, việc phân tích phải bằng những phương pháp trừu tượng. Phân tích kinh doanh là việc phân chia các hiện tượng, các quá trình và các kết quả kinh doanh thành nhiều bộ phận cấu thành. Trên cơ sở đó, bằng phương pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp nhằm tổng hợp lại và rút ra tính quy luật và xu hướng phát triển của các hiện tượng nghiên cứu. Phân tích kinh doanh gắn liền với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của con người.
Khi nền kinh tế càng phát triển, những đòi hỏi về quản lý nền kinh tế quốc dân không ngừng tăng lên. Để đáp ứng yêu cầu quản lý kinh doanh ngày càng cao và phức tạp, phân tích kinh doanh được hình thành và ngày càng hoàn thiện với hệ thống lý luận độc lập. Quá trình đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu khách quan của sự phát triển các bộ môn khoa học. Cũng là một môn khoa học độc lập, phân tích kinh doanh có đối tượng nghiên cứu riêng.
Nói chung, lĩnh vực nghiên cứu của phân tích kinh doanh không ngoài các hoạt động doanh như là một hiện tượng kinh tế, xã hội đặc biệt. Để phân chia tổng hợp và đánh giá các hiện tượng của hoạt động kinh doanh, đối tượng nghiên cứu của phân tích kinh doanh là những kết quả kinh doanh cụ thể, được thể hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế, với sự tác động của các tác nhân kinh tế. 3 Kết quả kinh doanh thuộc đối tượng phân tích có thể là kết quả riêng biệt của từng khâu, từng giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh như mua hàng, bán hàng, sản xuất ra hàng hóa hoặc có thể là kết quả tổng hợp của cả quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là kết quả tài chính cuối cùng của doanh nghiệp.
Từ các khái niệm trên, ta rút ra được khái niệm của phân tích TCDN: Phân tích tài chính doanh nghiệp là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và công cụ cho phép thu thập, xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp cho người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp. Sự cần thiết của phân tích TCDN Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp hay cụ thể hoá là việc phân tích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp là quá trình kiểm tra, đối chiếu, so sánh các số liệu, tài liệu về tình hình tài chính hiện hành và trong quá khứ nhằm mục đích đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro trong tương lai. Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính rất hữu ích đối việc quản trị doanh nghiệp, đồng thời là nguồn thông tin tài chính chủ yếu đối với những người bên ngoài doanh nghiệp.
Do đó, phân tích báo cáo tài chính là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các khách hàng, các nhà cho vay tín dụng, các cơ quan chính phủ, người lao động. Mỗi nhóm người này có những nhu cầu thông tin khác nhau. Phân tích tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác 4 nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh.
Do vậy sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như : chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng. kể cả các cơ quan Nhà nước và người làm công, mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau. Nội dung phân tích TCDN Nội dung phân tích TCDN gồm 2 yêu tố chính sau đây: a) Phân tích khái quát hoạt động TCDN Là đi phân tích chung tài sản và nguồn vốn của bản thân doanh nghiệp, chủ yếu là thông qua bảng cân đối kế toán hằng kỳ của đơn vị. Nhằm đánh giá tổng quát cơ sở vật chất kỹ thuật, tiềm lực kinh tế của doanh nghiệp ở quá khứ, hiện tại và khả năng trong tương lai.
Đồng thời, đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp, nếu tổng vốn tăng, tài sản của doanh nghiệp được mở rộng và có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và ngược lại b) Phân tích các chỉ tiêu tài chính chủ yếu Chỉ tiêu tài chính là một phạm trù kinh tế có nội dung tương đối ổn định, thể hiện kết quả, hiệu quả kinh doanh, cấu trúc tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm hay một thời kỳ. Hệ thống chỉ tiêu tài chính là một bảng tổng hợp các chỉ tiêu tài chính nhằm phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp phục vụ cho các đối tượng có nhu cầu. Để thông tin phân tích tài chính có độ tin cậy cao, cần xem xét một số quan điểm sau: Quan điểm toàn diện và hệ thống. Các chỉ tiêu tài chính thường có mối liên hệ ràng buộc chặt chẽ,do vậy trong công tác phân tích tài chính phải nghiên cứu, xem xét đầy đủ các mặt trong mối quan hệ tác động hữu cơ của các chỉ tiêu.
Quan điểm toàn diện khi phân tích tài chính còn thể hiện, đánh 5 giá từng mặt hoạt động của chỉ tiêu, đồng thời kết hợp phân tích tổng hợp đi đôi với phân tích trọng điểm, cụ thể. Quan điểm phân tích động, xuất phát từ sự phát triển của các hoạt động kinh doanh là một tất yếu khách quan. Do vậy khi phân tích tài chính phải đặt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong sự phát triển tất yếu của quá trình đó. Khi phân tích tuỳ theo yêu cầu của các nhà quản lý, mà tiến hành phân tích các số liệu kinh tế gắn với môi trường hoạt động.
Để đưa ra bản chất đúng đắn của hoạt động tài chính, cần nghiên cứu trong mối quan hệ hữu cơ của quá trình kinh doanh, gắn với về sự phát triển của xã hội. Quan điểm cụ thể, thực tế, khi tiến hành phân tích phải nắm vững tình hình, cụ thể của hoạt động sản xuất kinh doanh. Phân tích tài chính là chức năng quản lý trong việc hình thành những giải pháp có cơ sở khoa học nhằm hoàn thiện hoạt động của các cấp quản lý khác nhau trong nền kinh tế quốc dân. Các nhà quản trị kinh doanh luôn phải đứng trước các quyết định khác nhau đối với lợi ích doanh nghiệp.
Do vậy phân tích tài chính là một công cụ trợ giúp, để chọn quyết định đúng đắn nhất. Phân tích tài chính nhằm xác định tính khoa học, nâng cao chất lượng của các quyết định để đạt được lợi ích cao nhất. Trong cơ chế thị trường có sự cạnh tranh của các doanh nghiệp, thì các quyết định quản trị có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển của mỗi doanh nghiệp, khi đó nâng cao chất lượng của các quyết định quản trị càng có tầm quan trọng đặc biệt. Vận dụng các quan điểm phân tích trong quá trình sử dụng hệ thống chỉ tiêu phân tích có ý nghĩa quan trọng tới chất lượng của thông tin phân tích.
Khi đó ta xem xét thông tin của một chỉ tiêu tài chính trong mối quan hệ hữu cơ của hoạt động kinh doanh ở các trạng thái vận động của tài sản và nguồn vốn và như vậy mới thấy được bản chất, tính quy luật của các hiện tượng và quá trình kinh doanh, khi đó giá trị của các kết luận kiểm toán được nâng cao. HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Trong quá trình tổ chức xây dựng và thực hiện các hoạt động quản trị, các doanh nghiệp phải luôn kiểm tra, đánh giá tính hiệu quả của chúng. Muốn kiểm tra đánh giá các hoạt động kinh doanh chung của toàn doanh nghiệp cũng như từng lĩnh vực, từng bộ phận bên trong doanh nghiệp thì doanh nghiệp không thể không thực hiện việc tính hiệu quả kinh doanh.
Trước khi có thể hiểu được hiệu quả kinh doanh là gì thì chúng ta nên tìm hiểu phạm trù hiệu quả kinh tế nói chung là như thế nào? Có rất nhiều quan điểm chung về hiệu quả kinh tế nhưng có một quan điểm được nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước quan tâm chú ý và sử dụng phổ biến đó là : hiệu quả kinh tế của một số hiện tượng (hoặc một qúa trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã xác định. Đây là khái niệm tương đối đầy đủ phản ánh được tính hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ quan điểm trên về hiệu quả kinh tế thì có thể đưa ra khái niệm về hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh (hiệu quả sản xuất kinh doanh) của các doanh nghiệp như sau : hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, tiền vốn và các yếu tố khác) nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, phản ánh chất lượng của hoạt động kinh tế đó. Vai trò của hiệu quả kinh doanh Vai trò của hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất lao động và tiết kiệm nguồn năng lực.
Đây là hai mặt có quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế.