Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp của các ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng công tác phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp tại Agribank chi nhánh huyện Thanh Sơn - Phú Thọ giai đoạn 2021 – 2023. Chương 3: Hoàn thiện công tác phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp tại Agribank CN huyện Thanh Sơn - Phú Thọ. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
Những vấn đề chung về công tác phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp của các ngân hàng thương mại 1. Khái niệm, mục tiêu và ý nghĩa công tác phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại PTTC DN là quá trình đi sâu nghiên cứu nội dung, kết cấu và nhân tố ảnh hưởng qua lại của các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính (BCTC) để có thể đánh giá tình hình tài chính DN thông qua việc so sánh với các mục tiêu mà DN đã đề ra hoặc so sánh với các DN khác cùng ngành nghề, từ đó đưa ra quyết định cho vay và các giải pháp quản lý phù hợp với các ngân hàng thương mại (NHTM). PTTC DN trước hết tập trung vào các số liệu được cung cấp trong BCTC của DN, kết hợp với các thông tin bổ sung từ các nguồn khác nhau, làm rõ tình hình tài chính DN trong quá khứ, chỉ ra những thay đổi chủ yếu, những biến chuyển theo xu hướng, tính toán những nhân tố, những nguyên nhân của sự thay đổi trong các hoạt động tài chính, phát hiện những quy luật của các hoạt động, làm cơ sở cho các quyết định hiện tại và dự báo trong tương lai. Hoạt động PTTC KH DN giúp cho NHTM hiểu rõ về tình hình tài chính của DN, đảm bảo cho các khoản vay được an toàn và thu hồi đúng hạn, gia tăng tính chính xác và hiệu quả về công tác tín dụng của NHTM.
Rủi ro tín dụng và vai trò phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại Rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi ro chủ yếu trong hoạt động của các tổ chức tài chính, ngân hàng và các công ty tín dụng. Trong đó quản lý tín dụng, việc kiểm soát rủi ro tín dụng là rất quan trọng để giảm thiểu những thiệt hại và tăng cường hiệu quả kinh doanh của tổ chức tài chính. Để đối phó với rủi ro tín dụng, các tổ chức tài chính thường áp dụng các chính sách và quy trình kiểm soát rủi ro, đánh giá KH, quản lý nợ xấu và đầu tư an toàn. 6 Rủi ro tín dụng (Credit risk) là khả năng xảy ra tổn thất về tài chính khi KH vay không làm theo đúng điều khoản quy định của hợp đồng tín dụng.
Trong đó, rủi ro tín dụng gồm hai loại chính đó là rủi ro danh mục (Portfolio risk) và rủi ro giao dịch (Transaction risk). Rủi ro danh mục lại được chia thành hai loại rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk). Rủi ro giao dịch (Transaction risk) Rủi ro tín dụng (Credit risk) Rủi ro nội dung (Intrinsic risk) Rủi ro danh mục (Portfolio risk) Rủi ro tập trung (Concentration risk) Rủi ro tín dụng khiến cho ngân hàng bị mất cơ hội nhận được thu nhập tiền lãi cho vay, tổn thất trước hết tác động đến lợi nhuận và sau đó là vốn tự có của ngân hàng. Thêm nữa, vốn sử dụng để cho vay chủ yếu là vốn huy động từ tiền gửi của KH vì vậy trong trường hợp nợ xấu quá nhiều ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, có thể dẫn đến phá sản.
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính, có chức năng huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho các tổ chức và cá nhân có nhu cầu vay lại. Nguồn vốn cho KH vay chủ yếu là từ nguồn tiền gửi tiết kiệm của dân. Do đó, khi rủi ro tín dụng xảy ra, không chỉ ngân hàng chịu thiệt hại mà những KH gửi tiền gửi tại đây cũng bị ảnh hưởng. Như vậy, rủi ro tín dụng là một trong những nguy cơ tiềm ẩn HĐTD của các NHTM.
Vì vậy, PTTC KH DN đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá và quản 7 lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng này. PTTC KH DN cung cấp thông tin về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh, khả năng thanh toán nợ và năng lực sinh lời của KH. Điều này giúp ngân hàng đánh giá khả năng của KH trả nợ và xác định mức độ rủi ro tín dụng trong quá trình cho vay. Khái niệm HĐTD tại NHTM HĐTD là hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM để tạo ra lợi nhuận đem lại khoản thu nhập khá lớn cho ngân hàng.
Hiểu một cách đơn giản là việc chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ NHTM sang khách hàng vay sau một thời gian nhất định quay trở lại NHTM với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Hay có thể hiểu HĐTD của NHTM là quan hệ giữa một bên là người cho vay bằng cách chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên người vay đề sử dụng trong một thời gian nhất định với cam kết của người vay là hoàn trả cà gốc và lãi khi đến hạn. Theo quyết định 1627/2001_QĐ_ NHNN ngày 31/12/2001 của thống đốc ngân hàng về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng và hướng dẫn thực hiện 49/QĐ _HĐQT ngày 31/05/2002 của NHCT Việt Nam, cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền đề sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cà gốc và lãi. Các ngân hàng thường sử dụng các tiêu chí định lượng và định tính để đánh giá khả năng thanh toán và độ tin cậy của KH.
Những tiêu chí định lượng bao gồm các chỉ số tài chính như tỷ lệ nợ vay trên tài sản, tỷ suất sinh lời, tỷ lệ trả nợ và thời gian thu hồi vốn. Những tiêu chí định tính bao gồm các yếu tố như kinh nghiệm quản lý, tình trạng cạnh tranh trong ngành, độ tin cậy của KH và yếu tố liên quan đến ngành nghề của KH. Nhìn chung, vai trò của PTTC KH DN của NHTM bao gồm như sau: Một là, xác định tình trạng hoạt động hiện tại của DN. PTTC giúp NHTM đánh giá được tình trạng tài chính hiện tại của DN, từ đó đưa ra quyết định về việc cấp tín dụng và điều chỉnh nếu cần thiết.
8 Hai là, dự đoán nhu cầu tín dụng. PTTC cũng giúp NHTM dự đoán được nhu cầu tín dụng của DN trong tương lai, từ đó đưa ra quyết định cho vay vốn hợp lý, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. Ba là, đánh giá khả năng trả nợ. Sẽ giúp NHTM đưa ra quyết định về việc cấp tín dụng và điều chỉnh nếu cần thiết.
Bốn là, hỗ trợ quản lý rủi ro. Đây là một thước đo để đánh giá rủi ro và đưa ra các giải pháp phù hợp để hỗ trợ KH DN quản lý rủi ro tài chính. Vì vậy, PTTC KH DN đóng vai trò trong HĐTD của các NHTM. Việc PTTC giúp ngân hàng đánh giá KH, nắm bắt được tình hình tài chính hiện tại và tiềm năng phát triển trong tương lai của KH, từ đó có thể đưa ra quyết định cho vay vốn hợp lý, giảm thiếu rủi ro cho ngân hàng.
Cở sở dữ liệu về công tác phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp 1. Thông tin tài chính Thông tin tài chính thường được thể hiện trên bảng BCTC của DN. BCTC là căn cứ quan trọng trong việc phân tích, nghiên cứu, phát hiện những khả năng tiềm tàng và là căn cứ quan trọng đề ra các quyết định cho vay đối với NHTM. Tài liệu BCTC bao gồm 4 loại BCTC cơ bản sau: Bảng cân đối kế toán (BCĐKT): Theo Mục 1.1 khoản 1 Điều 112 Thông tư 200/2014/TT-BTC, BCĐKT là BCTC tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của DN tại một thời điểm cụ thể, thường là vào cuối quý hoặc cuối năm.
BCĐKT cho thấy tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của công ty. BCĐKT được sử dụng để tính toán các tỷ lệ tài chính của công ty, chẳng hạn như tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu, cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự ổn định tài chính công ty. BCĐKT có thể xem như một bức tranh tổng thể về tình hình tài sản và nguồn vốn của DN tại thời điểm cuối kỳ kế toán. Qua đó, có thể giúp người ta thấy được cơ cấu các tài sản và nguồn vốn của DN hiện có cũng như biến động của chúng ở cuối kỳ 9 so với đầu năm.
Chính vì vậy, nó là tài liệu quan trọng để cung cấp cho các chủ sở hữu, các cơ quan quản lý và bên liên quan sử dụng trong quá trình phân tích, đánh giá tình hình quản lý, tạo lập nguồn vốn, quá trình sử dụng các tài sản, tình hình tài chính của DN sau một kỳ kế toán cũng như đánh giá triển vọng trong thời gian tiếp theo của DN. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (BCKQHDKD) hay còn gọi là bảng báo cáo lãi lỗ, chỉ ra sự cân bằng giữa thu nhập (doanh thu) và chi phí trong từng kỳ kế toán. Bảng báo cáo này phản ánh tổng hợp tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh theo từng loại trong một thời kỳ kế toán và tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước. Báo cáo còn được sử dụng như một bảng hướng dẫn để xem xét DN sẽ hoạt động thế nào trong tương lai.
Nội dung phản ánh của BCKQHĐKD tác dụng chủ yếu là báo cáo cung cấp thông tin cho người sử dụng để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện các thực hiện các mục tiêu về lợi nhuận, dự án chi phí sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, kết quả hoạt động tài chính và các hoạt động khác cũng như thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước của DN. Và từ tình hình lãi (lỗ) theo từng mảng hoạt động của DN người sử dụng báo cáo có thể đánh giá khả năng bảo toàn, phát triển vốn chủ sở hữu cũng như triển vọng kinh doanh trong tương lai. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT) là báo cáo tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng luồng tiền phát sinh trong kỳ. Nó phản ánh những ảnh hưởng từ các hoạt động kinh doanh, đầu tư và hoạt động tài chính lên dòng tiền của DN trong kỳ kế toán.