Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về phân tích tài chính Công ty cổ phần 1. Khái quát về Công ty cổ phần (Joint – stock Company) 1. Khái niệm về công ty cổ phần Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh, thực hiện các chức năng sản xuất, mua bán hàng hóa hoặc làm dịch vụ, đáp ứng nhu cầu con người và xã hội nhằm sinh lời.
“Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” (trích dẫn nguồn từ Quốc hội (2005), Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11) Công ty cổ phần là một trong những loại hình của doanh nghiệp được thành lập theo luật, có nhiều chủ sở hữu - cổ đông - góp vốn bằng hình thức cổ phần. Cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn góp của mình. Đặc điểm của công ty cổ phần Công ty cổ phần có những đặc trưng cụ thể sau: - Phải có số lượng cổ đông tối thiểu là 3 thành viên và không hạn chế số lượng (có thể là cá nhân hoặc tổ chức là cổ đông); - Vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần, giá trị cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần. Mua cổ phần là hình thức chính để góp vốn vào công ty cổ phần; - Cổ đông là người nắm giữ cổ phần và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ công ty trong phạm vi số vốn đã góp; - Cổ đông có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho cổ đông hoặc các nhân, tổ chức khác một cách tự do ; - Doanh nghiệp cổ phần có thể phát hành chứng khoán theo quy định pháp luật.
Các khái niệm cơ bản về tài chính doanh nghiệp Tài chính là một khái niệm nảy sinh từ hoạt động kinh tế của các chủ thể trong nền kinh tế thị trường. Các chủ thể đó có thể là nhà nước, doanh nghiệp hoặc tổ chức phi lợi nhuận, cá nhân, hộ gia đình. Đối với doanh nghiệp, để tồn tại và tiến 8 hành hoạt động kinh doanh, cần thiết và tất yếu có các quan hệ dưới hình thức giá trị (thường dược đo lường, tính toán bằng tiền) phát sinh gắn liền với sự hình thành, chuyển hoá của vốn và thu nhập một cách thường xuyên, liên tục. Chẳng hạn, để có vốn kinh doanh, doanh nghiệp phải huy động vốn góp của các cổ đông và vay của ngân hàng; để tiến hành kinh doanh, doanh nghiệp phải dùng vốn (thường bằng tiền) để mua các yếu tố đầu vào như vật tư, nguyên vật liệu, hoặc dung hàng hoá, dịch vụ từ các nhà cung ứng và trả tiền thuê lao động, tiếp đến doanh nghiệp bán sản phẩm ra thị trường và có thu nhập; thu nhập lại được dùng để trang trải các chi phí và hình thành các quỹ tiền tệ cho doanh nghiệp… Như vậy, doanh nghiệp có rất nhiều mối quan hệ kinh tế với các chủ thể khác nhau và các mối quan hệ này có điểm chung là liên quan đến tài sản, biểu hiện bằng chi tiêu giá trị và cần thiết cho sự tồn tại, hoạt động của doanh nghiệp.
Những mối quan hệ ấy được gọi là quan hệ tài chính của doanh nghiệp. Đinh Văn Sơn: “Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế trong phân phối dưới hình thức giá trị của của cải vật chất thông qua tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ kinh doanh và các yêu cầu chung khác của xã hội”. Một cách cụ thể hơn, TS. Nguyễn Minh Kiều định nghĩa: “Tài chính nói chung là hoạt động liên quan đến việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ.
Tài chính doanh nghiệp là hoạt động liên quan đến việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ. Tài chính là hoạt động liên quan đến việc huy động hình thành nên nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn đó để tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản của doanh nghiệp nhằm mục tiêu đề ra”. Nhìn chung, các khái niệm về tài chính doanh nghiệp tuy có khác nhau giữa các tác giả, nhưng đều đưa đến một sự thống nhất chung là: “Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị, phản ảnh sự vận động và chuyển hoá các nguồn tài chính trong quá trình phân phối nhằm tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 1.
Khái niệm và nhiệm vụ của phân tích tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính doanh nghiệp được quan niệm như là một tổng thể các phương pháp được sử dụng để đánh giá thực trạng tài chính hiện tại và quá khứ của doanh nghiệp, thông qua đó cung cấp những thông tin cần thiết cho những đối tác khác nhau để họ có những quyết định phục vụ cho những mục tiêu và lợi ích khác nhau. Trong điều kiện hiện nay, phân tích tài chính không còn bị giới hạn ở các dữ liệu kinh tế và thị trường chứng khoán, do vậy số đối tác quan tâm sử dụng, sử dụng các báo cáo tài chính và thông tin từ kết quả phân tích tài chính doanh nghiệp cũng ngày càng mở rộng và tăng lên [4]. Hay nói cách khác, phân tích tài chính là cơ sở để dự đoán tài chính - một trong các hướng dự đoán doanh nghiệp.
Phân tích tài chính có thể được ứng dụng theo nhiều hướng khác nhau: với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị các quyết định nội bộ), với mục đích nghiên cứu, thông tin hoặc theo vị trí của nhà phân tích (trong doanh nghiệp hoặc ngoài doanh nghiệp). Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính đối với chủ doanh nghiệp Là chủ doanh nghiệp, hơn ai hết họ là người rất quan tâm đến những thông tin được cung cấp thông qua kết quả phân tích tài chính doanh nghiệp (được gọi là phân tích tài chính nội bộ), như kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh, kết quả của việc quản lý và sử dụng vốn, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, rủi ro tài chính doanh nghiệp … Những thông tin nói trên sẽ là cơ sở để các chủ doanh nghiệp lựa chọn, cân nhắc để đưa ra các quyết định đúng đắn về quản lý trong tương lai, như quyết định đầu tư, về tài trợ, về phân bổ vốn và sử dụng vốn, về giải quyết tình hình công nợ, về phân chia và sử dụng lợi nhuận, điều chỉnh cơ cấu sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường, liên doanh liên kết… Phân tích tài chính đối với các cơ quan chức năng của nhà nƣớc, cơ quan thuế Theo chế độ tài chính hiện hành, các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp liên doanh, cổ phần có vốn của nhà nước đều quản lý và sử dụng một lượng 10 tài sản và tiền vốn nhất định thuộc sở hữu nhà nước, do đó các cơ quan chức năng của nhà nước, như cơ quan tài chính, cơ quan chủ quản đều quan tâm đến những thông tin về tình hình phân bổ và sử dụng vốn, tình hình đầu tư, khả năng tạo vốn, khả năng sinh lời, tình hình bảo toàn vốn… Với cơ quan thuế, vấn đề quan tâm với họ còn rộng hơn, cụ thể như kết quả kinh doanh, việc thực hiện các nghĩa vụ với nhà nước, như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập, thuế vốn, thuế đất, thuế tài nguyên và các khoản phải nộp khác… Phân tích tài chính đối với các nhà cho vay, chủ nợ của doanh nghiệp, các cổ đông hiện tại và cổ đông tƣơng lai Hiện nay, vốn vay và nợ phải trả chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp. Do vậy các nhà cho vay, như các ngân hàng thương mại, các định chế tài chính, người mua tín phiếu, trái phiếu, các nhà bán chịu cho doanh nghiệp đều rất quan tâm đến kết quả hoạt động kinh doanh, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, khả năng trả nợ vay, hiệu quả sử dụng vốn, thu nhập cổ phiếu, tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ đông, tỷ lệ trả lãi cổ phần, tỷ giá thị trường trên thu nhập của mỗi cổ phiếu. Phân tích tài chính doanh nghiệp đối với những ngƣời tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm cả những ngƣời làm công ăn lƣơng Là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp, do đó quyền lợi của họ gắn liền và tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Họ quan tâm đến kết quả hoạt động kinh doanh, khả năng sinh lời, tình hình đầu tư, khả năng thanh toán (đặc biệt là thanh toán nhanh). Đối với các doanh nghiệp cổ phần, người hưởng lương cũng quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn cổ đông cũng giống với sự quan tâm của cổ đông của doanh nghiệp. Phân tích tài chính đối với đối thủ cạnh tranh Hoạt động trong điều kiện của kinh tế thị trường, đặc biệt trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá, cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt. Trên cùng một thị trường, nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất và kinh doanh mặt hàng (sản phẩm) giống nhau, ví dụ xe máy, ô tô, bia, đồ gia dụng… do đó các đối thủ cạnh tranh rất 11 muốn biết những thông tin liên quan đến tình hình tài chính của doanh nghiệp khác, như kết quả sản xuất kinh doanh, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, tình hình đầu tư, tình hình và khả năng tạo vốn thông qua phát hành tín phiếu, trái phiếu… Từ những vấn đề phân tích ở trên, có thể rút ra kết luận rằng, có rất nhiều đối tượng quan tâm đến báo cáo tài chính và những thông tin được rút ra từ phân tích tài chính của doanh nghiệp.
Những thông tin có được qua phân tích tài chính doanh nghiệp là cơ sở quan trọng để họ sử dụng trong việc đưa ra các quyết định có liên quan tới những mục đích khác nhau, như: Quyết định có liên quan đến yêu cầu quản lý doanh nghiệp; Quyết định chấp nhận hay từ chối cho vay, bán chịu; Quyết dịnh mua hay bán tín phiếu của doanh nghiệp; Quyết định chuyển đổi quyền sở hữu doanh nghiệp (sát nhập, cổ phần, liên doanh, giải thể) Chính vì những ý nghĩa tác dụng nói trên nó đã khẳng định sự cần thiết của phân tích tài chính doanh nghiệp 1.