Tổng quan nghiên cứu

Năm 2009, thị trường tài chính Việt Nam ghi nhận một nghịch lý nghiêm trọng trong hoạt động quản trị nợ công khi Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) tổ chức 51 đợt đấu thầu trái phiếu Chính phủ (TPCP) bằng nội tệ với tổng giá trị gọi thầu lên đến 62.700 tỷ đồng, nhưng kết quả thực tế chỉ huy động được 2.578 tỷ đồng. Tỷ lệ đấu thầu thành công rơi xuống mức thấp kỷ lục là 4,18%, trong đó có hơn 40 phiên đấu thầu hoàn toàn không huy động được bất kỳ nguồn vốn nào cho ngân sách.

Thực trạng này diễn ra đúng vào giai đoạn nhu cầu vốn của quốc gia tăng vọt nhằm tài trợ cho gói kích thích kinh tế trị giá 8 tỷ USD (tương đương 145.600 tỷ đồng, chiếm khoảng 10% GDP) và bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước (NSNN) đang leo thang lên mức 6,9% GDP. Sự ngưng trệ đột ngột của kênh tín dụng nhà nước (TDNN) qua phát hành TPCP – vốn là kênh tài trợ tới 64% thâm hụt ngân sách giai đoạn 2000–2007 – đã đặt cân đối tài khóa vào tình thế rủi ro cao.

Nghiên cứu tập trung giải quyết hai câu hỏi trọng tâm: Những nguyên nhân cơ bản nào khiến các đợt đấu thầu TPCP năm 2009 liên tiếp thất bại, và hệ thống giải pháp trọng tâm nào cần được triển khai để khơi thông kênh huy động vốn này trong giai đoạn tiếp theo. Phạm vi khảo sát bao gồm toàn bộ các công cụ TPCP ngắn, trung và dài hạn phát hành bằng đồng nội tệ (VND) và ngoại tệ (USD) từ năm 2000 đến đầu năm 2010. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện rõ qua việc cung cấp cơ sở thực nghiệm giúp tối ưu hóa tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội (đạt 42,4% GDP năm 2009), giải quyết xung đột trong điều hành chính sách tiền tệ - tài khóa và hoàn thiện cấu trúc thị trường vốn nợ có chủ quyền.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết Tín dụng Nhà nước để xác lập vai trò của công cụ nợ công. Theo lý thuyết này, TDNN thực hiện bốn chức năng cốt lõi: phân phối lại nguồn lực tài chính xã hội, bù đắp thâm hụt ngân sách mà không tạo áp lực lạm phát do phát hành tiền, định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cung cấp tài sản phi rủi ro chuẩn hóa cho thị trường mở (TTM).

Đồng thời, đề tài tích hợp Lý thuyết Cấu trúc vi mô thị trường trái phiếu của McCaulay và Remolona (2000), khẳng định mối liên hệ chặt chẽ giữa quy mô thị trường, mức độ tập trung hàng hóa và tính thanh khoản của chứng khoán nợ. Các khái niệm nền tảng được định nghĩa chuẩn hóa theo khuôn khổ pháp lý của Nghị định 141/2003/NĐ-CP, bao gồm Trái phiếu Chính phủ, Lợi suất đến khi đáo hạn (Yield to Maturity - YTM), Lãi suất cơ bản (LSCB), Cơ chế trần lãi suất phát hành và Hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xã hội (ICOR).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập đồng bộ từ các cơ quan quản lý và định chế tài chính uy tín giai đoạn 2000–2010, bao gồm Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Sở GDCK Hà Nội (HNX), Tổng cục Thống kê, Bloomberg và chuyên trang giám sát trái phiếu Châu Á (AsianBondsOnline).

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 51 đợt đấu thầu TPCP bằng VND, 7 đợt đấu thầu bằng ngoại tệ trong năm 2009 và cơ sở dữ liệu của 459 mã TPCP niêm yết trên HNX tính đến tháng 3/2010. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ theo chuỗi thời gian được áp dụng nhằm đảm bảo tính bao quát, không bỏ sót các biến động vi mô của từng phiên gọi thầu.

Phương pháp phân tích chủ đạo là thống kê mô tả kết hợp phân tích quy nạp, diễn dịch và phân tích độ lệch chênh lệch lãi suất (spread analysis). Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm so sánh trực tiếp mức trần lãi suất phát hành hành chính với lãi suất đặt thầu của nhà đầu tư, lãi suất huy động của ngân hàng thương mại và lợi suất giao dịch YTM trên thị trường thứ cấp. Cách tiếp cận này bóc tách chính xác sự sai lệch giữa mức giá do Nhà nước ấn định và mức giá cân bằng cung - cầu thực tế của thị trường tài chính.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kế hoạch huy động vốn qua phát hành TPCP năm 2009 bị sụp đổ diện rộng trên thị trường nội tệ. Trong tổng nhu cầu vốn khoảng 200.000 tỷ đồng, Kho bạc Nhà nước chỉ huy động được 7.000 tỷ đồng (đạt 5,6% kế hoạch 126.000 tỷ đồng), Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) huy động được 4.860 tỷ đồng (đạt 12,15% kế hoạch 40.000 tỷ đồng), và Ngân hàng Chính sách Xã hội chỉ đạt 2.000 tỷ đồng (đạt 20% kế hoạch). Trên sàn HNX, tỷ lệ trúng thầu bình quân chỉ đạt 4,18% khối lượng gọi thầu.

Thứ hai, trần lãi suất do Bộ Tài chính áp đặt trên thị trường sơ cấp bị định giá quá thấp so với kỳ vọng thị trường. Trong nửa đầu năm 2009, trần lãi suất tín phiếu 364 ngày được áp ở mức 6%/năm, TPCP kỳ hạn 2–3 năm là 6,7% - 6,75%/năm, trong khi chi phí huy động bình quân kỳ hạn 1 năm của các ngân hàng thương mại đã ở mức 8%/năm và cho vay ở mức 11%/năm (chênh lệch từ 1,5% đến 1,7%/năm). Đến nửa cuối năm 2009, dù Bộ Tài chính nâng trần lên 8,9% - 9,8%/năm nhưng lãi suất đặt thầu của nhà đầu tư đã vọt lên 10,3% - 13%/năm, tạo ra khoảng cách chênh lệch 1,4%/năm khiến các phiên đấu thầu tiếp tục bị hủy bỏ.

Thứ ba, thị trường thứ cấp rơi vào trạng thái tê liệt thanh khoản và phân mảnh hàng hóa nghiêm trọng. Tổng giá trị giao dịch chuyển nhượng TPCP năm 2009 chỉ đạt 77.500 tỷ đồng (chưa bằng 50% giá trị niêm yết cuối năm 2008), giao dịch bình quân mỗi phiên chỉ khoảng 300 tỷ đồng (tương ứng 0,18% tổng giá trị niêm yết). Thị trường tồn tại 459 mã trái phiếu nhỏ lẻ (hơn 200 mã hoàn toàn không có giao dịch). Khối nhà đầu tư nước ngoài sau khi bán ròng 30.740 tỷ đồng trong năm 2008 đã giảm tỷ trọng giao dịch từ 70% (năm 2007) xuống còn 30% tổng thị trường năm 2009.

Thứ tư, sự phân hóa rõ nét khi phát hành TPCP bằng ngoại tệ đạt tỷ lệ thành công lên tới 61,35% (huy động được 460,11 triệu USD / 750 triệu USD gọi thầu qua 7 phiên đấu thầu). Mức lợi suất USD từ 2,98% đến 3,9%/năm được đánh giá là kênh trú ẩn hiệu quả cho các NHTM có nguồn ngoại tệ nhàn rỗi so với chi phí phát hành quốc tế kỳ hạn 10 năm lên tới 6,95%/năm.

Thảo luận kết quả

Sự thất bại của thị trường TPCP bắt nguồn từ "thế tiến thoái lưỡng nan" trong phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô. Việc Ngân hàng Nhà nước duy trì Lãi suất cơ bản (LSCB) hành chính ở mức 7%/năm để mở rộng cung tiền và ghìm trần lãi suất cho vay đã vô tình trở thành rào cản ngăn Bộ Tài chính nâng trần lãi suất TPCP lên mức thị trường (trên 10%/năm). Nếu nâng trần TPCP, mặt bằng lãi suất thương mại sẽ bị đẩy lên cao, xung đột trực tiếp với mục tiêu kích thích tăng trưởng.

Dữ liệu thực nghiệm khi được thể hiện qua các bảng so sánh chênh lệch lợi suất và đồ thị đường cong lãi suất cho thấy một bức tranh đối lập sâu sắc giữa lãi suất liên ngân hàng tăng vọt và mức trần phát hành cố định.

Bên cạnh đó, áp lực huy động vốn từ phía Bộ Tài chính bị triệt tiêu một phần do tình trạng giải ngân vốn đầu tư công diễn ra vô cùng chậm chạp. Đến hết tháng 10/2009, tỷ lệ giải ngân vốn TPCP chỉ đạt 47,5% kế hoạch (tương đương 26.700 tỷ đồng), nhiều địa phương chỉ giải ngân được dưới 10%. Hiệu quả sử dụng vốn của khu vực kinh tế nhà nước giai đoạn 1995–2008 rất kém với hệ số ICOR trung bình lên tới 7,55 (so với mức 3,56 của khu vực ngoài quốc doanh). Thực tế này làm tăng nguy cơ gánh nặng nợ công nếu phải trả lãi suất cao. Hơn nữa, tâm lý ỷ lại vào Điều 23 Luật NHNN đã cho phép ngân sách tạm ứng trực tiếp 20.000 tỷ đồng từ nguồn tiền nhàn rỗi của NHNN mà không cần thông qua đấu thầu thị trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, bãi bỏ cơ chế trần lãi suất hành chính và cải cách công cụ Lãi suất cơ bản. Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước cần chuyển đổi hoàn toàn sang cơ chế xác định lãi suất TPCP dựa trên đấu thầu cạnh tranh tự do trên HNX. Mục tiêu là thu hẹp chênh lệch giữa trần lãi suất và kỳ vọng thị trường về 0%, nâng tỷ lệ đấu thầu thành công lên trên 70%. Lộ trình thực hiện cần hoàn thành ngay trong giai đoạn 2010–2011.

Thứ hai, chuẩn hóa hàng hóa và tập trung phát hành theo lô lớn. Kho bạc Nhà nước cần thực hiện nghiêm túc Quyết định 46/2006/QĐ-BTC, ấn định quy mô mỗi lô phát hành tối thiểu từ 1.000 đến 2.000 tỷ đồng/mã. Giảm bớt số lượng mã trái phiếu phân mảnh từ 459 mã xuống dưới 50 mã chuẩn, đồng thời bổ sung các công cụ trái phiếu lãi suất thả nổi và trái phiếu bảo vệ rủi ro lạm phát nhằm xây dựng đường cong lãi suất chuẩn (benchmark yield curve) giai đoạn 2010–2012.

Thứ ba, thiết lập hệ thống nhà tạo lập thị trường và đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư. Bộ Tài chính phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quy định cơ chế quyền lợi và nghĩa vụ chào giá hai chiều cho các định chế Primary Dealers; đồng thời ban hành chính sách khuyến khích các quỹ hưu trí, quỹ tương hỗ và công ty bảo hiểm tham gia nhằm giảm tỷ trọng nắm giữ thụ động của các ngân hàng thương mại (hiện chiếm 79,7%). Mục tiêu đưa quy mô thị trường trái phiếu từ 15% GDP lên 30% GDP vào năm 2015.

Thứ tư, siết chặt kỷ luật giải ngân và nâng cao hiệu quả đầu tư công. Chính phủ và Bộ Kế hoạch & Đầu tư cần tái cơ cấu danh mục đầu tư công, xử lý dứt điểm tình trạng đầu tư dàn trải để hạ hệ số ICOR khu vực nhà nước từ 7,55 xuống dưới 5,0; chấm dứt việc áp dụng tùy tiện cơ chế tạm ứng 20.000 tỷ đồng từ NHNN để buộc ngân sách phải vận hành theo kỷ luật thị trường vốn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách (Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước, Bộ Kế hoạch & Đầu tư) sử dụng luận văn làm cơ sở thực chứng để tháo gỡ xung đột tiền tệ - tài khóa, tái cấu trúc kỳ hạn nợ công và thiết lập cơ chế đấu thầu thị trường minh bạch.

Thứ hai, Ban điều hành các Ngân hàng thương mại và Định chế tài chính (Công ty chứng khoán, Quỹ đầu tư, Doanh nghiệp bảo hiểm) ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc xây dựng danh mục tài sản thanh khoản, quản trị rủi ro lãi suất tái đầu tư và định giá trái phiếu dựa trên đường cong YTM.

Thứ ba, Giảng viên, Nghiên cứu viên và Học viên cao học chuyên ngành Chính sách công, Tài chính - Ngân hàng và Kinh tế phát triển khai thác đề tài như một nghiên cứu tình huống kinh điển về sự méo mó của thị trường vốn nợ sơ khai dưới tác động của các biện pháp can thiệp hành chính.

Thứ tư, Các Tổ chức tài chính quốc tế và Chuyên gia phân tích vĩ mô tham khảo để đánh giá mức độ phát triển thị trường nợ Việt Nam, rủi ro tái tài trợ và tính đồng bộ thể chế tài chính trong các nền kinh tế đang chuyển đổi.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỷ lệ đấu thầu TPCP nội tệ thành công năm 2009 chỉ đạt 4,18%?

Tỷ lệ thành công chỉ đạt 4,18% do trần lãi suất do Bộ Tài chính khống chế ở mức 6,0% - 9,8%/năm, thấp hơn đáng kể so với mức lãi suất đặt thầu 10,3% - 13,0% của nhà đầu tư và chi phí vốn của các ngân hàng thương mại, khiến hơn 40 trên tổng số 51 phiên đấu thầu thất bại hoàn toàn.

Công cụ Lãi suất cơ bản (7%/năm) đã cản trở việc phát hành TPCP như thế nào?

Lãi suất cơ bản 7%/năm quy định mức trần lãi suất cho vay thương mại tối đa 10,5%/năm. Nếu Bộ Tài chính nâng trần lãi suất TPCP vượt mức này để thu hút người mua, động thái này sẽ phá vỡ định hướng chính sách tiền tệ nới lỏng của Ngân hàng Nhà nước, tạo ra sự xung đột trực tiếp giữa hai hệ thống lãi suất.

Vì sao phát hành TPCP bằng ngoại tệ năm 2009 lại đạt tỷ lệ thành công 61,35%?

Đấu thầu TPCP bằng ngoại tệ đạt tỷ lệ 61,35% (huy động 460,11 triệu USD) nhờ mức lợi suất từ 2,98% đến 3,90%/năm đối với kỳ hạn 1–3 năm rất hấp dẫn đối với các ngân hàng thương mại có nguồn ngoại tệ dư thừa, trong khi chi phí vay này thấp hơn nhiều so với mức 6,95%/năm khi phát hành trái phiếu quốc tế.

Quy mô thị trường TPCP ở mức 15% GDP ảnh hưởng ra sao đến tính thanh khoản?

Quy mô 13 tỷ USD (tương đương 15% GDP) của Việt Nam quá nhỏ so với mức trung bình 54% GDP của Đông Á. Việc chia nhỏ thị trường thành 459 mã trái phiếu khiến khối lượng giao dịch thứ cấp bình quân mỗi phiên chỉ đạt 300 tỷ đồng, làm triệt tiêu tính thanh khoản và gây khó khăn cho việc định giá.

Hệ số ICOR 7,55 của khu vực nhà nước có liên hệ gì với sự thất bại của các đợt phát hành TPCP?

Hệ số ICOR khu vực nhà nước lên tới 7,55 phản ánh hiệu quả sử dụng vốn vay kém, cùng với tiến độ giải ngân vốn TPCP đến tháng 10/2009 chỉ đạt 47,5% khiến Chính phủ e ngại gánh nặng trả nợ trong tương lai, làm giảm áp lực phải nâng trần lãi suất để huy động vốn bằng mọi giá.

Kết luận

  • Kênh phát hành TPCP năm 2009 bị tắc nghẽn nghiêm trọng với tỷ lệ thành công 4,18% do sự can thiệp hành chính vào trần lãi suất phát hành sơ cấp.
  • Xung đột giữa công cụ Lãi suất cơ bản (7%) và trần lãi suất nợ công là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thất bại của hơn 40 phiên đấu thầu nội tệ.
  • Thị trường thứ cấp thiếu thanh khoản do quy mô nhỏ (15% GDP) và tồn tại tới 459 mã trái phiếu phân mảnh, đòi hỏi phải tái cơ cấu phát hành theo lô lớn từ 1.000 tỷ đồng trở lên.
  • Cần khẩn trương thiết lập hệ thống nhà tạo lập thị trường (Primary Dealers) và xóa bỏ áp đặt trần lãi suất để xây dựng đường cong lãi suất chuẩn trước năm 2015.
  • Nâng cao hiệu quả đầu tư công, hạ hệ số ICOR khu vực nhà nước từ 7,55 xuống dưới 5,0 và tăng tốc độ giải ngân là nền tảng cốt lõi đảm bảo an toàn nợ công quốc gia.