Chương 1: Khung lý thuyết về chuỗi giá trị toàn cầu - Chương 2: Đánh giá sự tham gia của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu mặt hàng cà phê - Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy sự tham gia của Việt Nam trong chuỗi giá trị cà phê toàn cầu. Luan van 7 CHƢƠNG 1: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU 1.1 Khái quát về chuỗi giá trị toàn cầu 1.1 Khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu 1.1Khái niệm chuỗi giá trị Michael Porter là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ chuỗi giá trị (Porter, 1985). Theo đó, “Chuỗi giá trị là tổng thể các hoạt động liên quan đến sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó. Trong chuỗi giá trị diễn ra quá trình tương tác giữa các yếu tố cần và đủ để tạo ra một hoặc một nhóm sản phẩm và các hoạt động phân phối, tiêu thụ sản phẩm, nhóm sản phẩm đó theo một phương thức nhất định.
Giá trị tạo ra của chuỗi bao gồm tổng các giá trị tạo ra tại mỗi công đoạn của chuỗi.” Tiếp theo đó, hai nhà đồng tác giả Raphael Kaplinsky và Mike Morris vào năm 2003 đã đưa ra khái niệm về chuỗi giá trị: “Chuỗi giá trị được hiểu là một chuỗi các hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm hay dịch vụ từ khi còn là ý tưởng thông qua nhiều công đoạn sản xuất khác nhau (bao gồm sự kết hợp giữa những yếu tố đầu vào và các biến đổi vật chất của các nhà dịch vụ và sản xuất) đến khi được phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng, kể cả việc xử lý sản phẩm đã qua sử dụng”. Một chuỗi giá trị cho bất kỳ một sản phẩm nào sẽ bao gồm các công đoạn: nghiên cứu và phát triển, trồng trọt và chế biến, phân phối, marketing. Tất cả những hoạt động này tạo nên một chuỗi liên kết giữa người sản xuất và người tiêu dùng, hơn thế nữa mỗi hoạt động trong chuỗi sẽ tạo thêm giá trị cho sản phẩm cuối cùng. Như vậy, chuỗi giá trị có thể được nhìn nhận theo góc độ rộng hơn, các khâu và hoạt động được chi tiết hóa, chuỗi giá trị là một tập hợp các hoạt động do nhiều tham gia cùng thực hiện để biến một nguyên liệu thô trở thành thành phẩm được tiêu thụ.
Chuỗi giá trị cho thấy các hoạt động trong một chuỗi không phải do một doanh nghiệp duy nhất tiến hành mà nó thể hiện sự liên kết ngược xuôi giữa các yếu tố tham gia chuỗi đến khi nguyên liệu thô được sản xuất và kết nối với người tiêu dùng cuối cùng. Một chuỗi giá trị sẽ tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi nỗ lực để tạo ra giá trị tối đa cho toàn chuỗi. Luan van 8 Khái quát lại, chuỗi giá trị là tập hợp của một chuỗi các hoạt động để chuyển hóa nguồn lực đầu vào thành các thành phẩm được tiêu thụ và mỗi hoạt động trong chuỗi sẽ tạo ra thêm giá trị cho sản phẩm cuối cùng.2Khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu Như đã phân tích, mỗi sản phẩm đều phải trải qua một chu kỳ từ giai đoạn nghiên cứu và phát triển, thử nghiệm, sản xuất, marketing, hỗ trợ và mở rộng kỹ thuật để cải tiến. Mỗi hoạt động này đều riêng biệt và có tính chuyên môn hóa.
Hầu hết các quốc gia đang phát triển sẽ không có đủ nguồn lực và năng lực để đảm nhiệm tất cả các khâu trong chuỗi giá trị của một sản phẩm. Tuy nhiên, các nước đang phát triển đang dần nâng cao năng lực của mình để đảm nhận nhiều hơn các khâu trong một chu kỳ của sản phẩm. Với chuỗi giá trị diễn ra trên phạm vi toàn cầu, các mắt xích tạo ra giá trị cuối cùng của thành phẩm đã vượt qua ngoài biên giới quốc gia. Các doanh nghiệp đến từ các quốc gia khác nhau sẽ trở thành những mắt xích quan trọng và chi phối sự phát triển của chuỗi giá trị.
Từ đó, chuỗi giá trị toàn cầu (GVC – Global Value Chain) ra đời cho phép các khâu trong chuỗi giá trị đặt tại các quốc gia khác nhau nhằm mang đến hiệu quả cao nhất và chi phí thấp nhất.2 Phân loại chuỗi giá trị toàn cầu Dựa vào nhân tố chi phối chuỗi, chuỗi giá trị toàn cầu được chia làm 3 loại: chuỗi giá trị do người bán chi phối, chuỗi giá trị do người mua chi phối, và các liên kết cụm với sự thống lĩnh của các tập đoàn lớn: Chuỗi giá trị do người bán chi phối Trong chuỗi giá trị này, các công ty xuyên quốc gia (TNCs) và đa quốc gia (MNCs) có quy mô lớn đóng vai trò trung tâm và điều phối mạng lưới sản xuất phối hợp (bao gồm cả liên kết xuôi chiều và ngược chiều). Đây là đặc điểm của các ngành có hàm lượng vốn lớn, đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao như sản xuất máy bay, ô tô, linh kiện điện tử, sản phẩm bán dẫn và máy móc công nghiệp. Người dẫn dắt có mạng lưới chi nhánh rộng lớn và mô hình này Luan van 9 rất phổ biến ở các nước công nghiệp hóa theo định hướng xuất khẩu, mạnh về sản xuất sản phẩm tiêu dùng như dệt may, hàng thủ công, đồ điện dân dụng. Theo đó, các nhà thầu phụ đặt tại các nước đang phát triển sẽ tham gia vào các khâu trong quy trình như lắp ráp, hoàn thiện sản phẩm cho nhà sản xuất chính ở nước ngoài.
Chuỗi giá trị do người mua chi phối Trong chuỗi giá trị này, các nhà sản xuất đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập mạng lưới sản xuất phi tập trung tại các quốc gia đang phát triển. Mô hình này phù hợp với các ngành công nghiệp hàng tiêu dùng như dệt may, giày dép, đồ thủ công mỹ nghệ, đồ gia dụng. Quy trình sản xuất được thực hiện thông qua các nhà thầu phụ thực hiện công việc hoàn thiện sản phẩm cho người mua nước ngoài. Thời gian gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế dịch vụ và công nghệ điện tử, mô hình chuỗi giá trị do người mua chi phối ngày càng trở nên phổ biến.
Một vài ví dụ điển hình cho mô hình này là Walmart, Nike, Gap, The Limited Inc,… Luan van 10 Bảng 0.1: So sánh 2 mô hình chuỗi giá trị do ngƣời bán chi phối và chuỗi giá trị do ngƣời mua chi phối Yếu tố Chuỗi giá trị do người Chuỗi giá trị do người mua bán chi phối chi phối Chủ sở hữu các công ty Các công ty xuyên quốc Các công ty nội địa, thường sản xuất gia và đa quốc gia đặt tại các nước đang phát triển Hoạt động chi phối Sản xuất công nghiệp Thương mại Năng lực cốt lõi Nghiên cứu và phát triển Thiết kế, Marketing (R&D) và sản xuất Các ngành điển hình Điện thoại, máy tính, Hàng may mặc, giày dép, máy bay thủ công mỹ nghệ Nguồn: Gary Gereffi, The governance of global value chains, 2005 Các liên kết cụm với sự thống lĩnh của các tập đoàn lớn Mô hình này là sự tập hợp của các hoạt động có liên quan hoặc liên kết với nhau bao gồm các ngành công nghiệp, các nhà cung cấp, cơ sở hạ tầng, dịch vụ hỗ trợ và các điều kiện cần thiết khác. Điển hình cho các liên kết cụm là các khu công nghiệp, khu kinh tế mở, khu chế xuất,… Mô hình liên kết cụm thể hiện sự liên kết mang tính chất mạng lưới,bao gồm cả liên kết dọc và liên kết ngang.2 Phân tích các yếu tố tác động tới sự tham gia của mỗi quốc gia vào chuỗi giá trị toàn cầu 1.1 Mô tả mô hình chuỗi giá trị toàn cầu (Mapping) Về cơ bản, các quốc gia sẽ tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu theo 3 cấp độ: giá trị gia tăng thấp, giá trị gia tăng trung bình và giá trị gia tăng cao. Morris (2003) đã đưa ra sơ đồ các hoạt động trong một chuỗi giá trị và giá trị gia tăng tương ứng với từng khâu.1: Mô hình chuỗi giá trị gia tăng đối với mặt hàng cà phê Nguồn: Kaplinsky and Morris, A Handbook for Value Chain, 2003 Trong đó: 1: R&D 2: Thiết kế 3: Sản xuất 4: Phân phối 5: Marketing Theo đó, trong một chuỗi giá trị, hoạt động R&D và Marketing sẽ có giá trị gia tăng cao nhất, sau đó là khâu thiết kế và phân phối, hoạt động sản xuất đem lại giá trị gia tăng thấp nhất. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, quy trình sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm sẽ diễn ra trên quy mô toàn cầu.
Các quốc gia đang phát triển hiện nay chủ động các chính sách hỗ trợ để để doanh nghiệp trở thành một bộ phân của chuỗi giá trị toàn cầu. Các nước đang phát triển có thể tận dụng điều kiện thuận lợi của địa phương nhằm khai thác lợi thế cạnh tranh quốc tế, giảm chi phí, phát triển khoa học công nghệ để giúp các doanh nghiệp tham gia ngày càng sâu vào các hoạt động mang lại giá trị gia tăng cao trong một chuỗi giá trị.2 Quản trị trong chuỗi giá trị toàn cầu (Governance) Luan van 12 Theo Humphrey & Schmitz (2002), quản trị chuỗi thể hiện sự kiên kết của các bên tham gia và cơ chế thực hiện của các hoạt động điều phối phi thị trường. Gereffi (2005) đưa ra 5 mô hình quản trị chuỗi toàn cầu như sau: Thị trường Thị trường được coi là hình thức đơn giản nhất trong các mô hình quản trị chuỗi trong đó giá cả là cơ chế quản trị trung tâm. Sự kết nối giữa các hoạt động quản trị chuỗi không thật sự chặt chẽ vì các thông tin cần được trao đổi và các kiến thức cần chia sẻ tương đối đơn giản.
Vì vậy, chi phí để chuyển giao sang đối tác khác sẽ thấp đối với các yếu tố trong chuỗi. Chuỗi giá trị mẫu Một cách tổng quát theo chuỗi giá trị mẫu, nhà cung cấp trong chuỗi giá trị sẽ tạo ra sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ theo hướng dẫn chi tiết của khách hàng. Các nhà cung cấp sẽ chịu trách nhiệm về quy trình công nghệ và dùng các máy móc, công cụ phổ biến để thu hút đầu tư từ một lượng khách hàng lớn. Điều này giúp duy trì chi phí chuyển đổi thấp và giới hạn đầu tư vào các giao dịch cụ thể, kể cả khi tương tác giữa người cung cấp và người mua trở nên phức tạp.
Các sự liên kết trong mô hình quản trị chuỗi này sẽ chặt chẽ hơn một cách cần thiết so với mô hình thị trường giản đơn vì khối lượng thông tin luân chuyển trong sự kết nối của các doanh nghiệp là lớn hơn.