Chương 1: Giới thiệu Giới thiệu các vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan Tổng quan các lý thuyết về nghèo, tín dụng chính thức cho hộ nghèo, các nghiên cứu trước có liên quan. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày phương pháp nghiên cứu, dự liệu nghiên cứu, quy trình nghiên cứu, phương pháp phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Dùng phần mềm SPSS và Microsoft Ecxel.
Áp dụng thống kê mô tả và thống kê so sánh để đưa ra bằng chứng và dữ liệu cho nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Tóm tắt kết quả nghiên cứu, đồng thời dựa vào kết quả nghiên cứu cũng như thực tiễn địa phương, phiếu điều tra, đề tài đề xuất một số kiến nghị nhằm giúp hộ nghèo sử dụng vốn tín dụng hiệu quả hơn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2.1 Tổng quan về đói nghèo 2. Khái niệm về đói nghèo Ngân hàng thế giới định nghĩa nghèo đói bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, chăm sóc y tế, thiếu khẩu phần dinh dưỡng trong bữa ăn hàng ngày.
Đến năm 2000 và 2001, NHTG đã thêm vào khái niệm tình trạng dễ bị tổn thương. Xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghĩa là khốn cùng, ít được tiếp cận các thông tin dịch vụ công cộng, vị trí người nghèo trong xã hội thấp. Nghèo có nghĩa là đói, không có nhà cửa, thiếu đất đai sản xuất, thiếu kiến thức tổ chức sản xuất, bệnh tật và ít được chăm sóc, không biết chữ và ít được đến trường. Nhưng đối với người nghèo, sống trong cảnh bần hàn còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế.
Người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự cố bất thường như thiên tai, bệnh tật… nằm ngoài khả năng kiểm soát của hộ nghèo (Ngân hàng thế giới, 1990). Tại Việt Nam Chính phủ đã thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993, theo đó: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế-xã hội và phong tục tập quán của địa phương” (trích bởi Nguyễn Trọng Hoài, 2005). Có thể xem đây là định nghĩa chung nhất về nghèo đói, trong đó các tiêu chí và chuẩn mực đánh giá về thiếu hụt thu nhập, thiếu hụt các thông tin dịch xã hội, chưa tính đến những khác biệt giữa các vùng, miền và các điều kiện vị trí địa lý. Ngoài ra, cũng có quan niệm khác về nghèo đói mang tính kinh điển hơn, triết lý hơn là của A.
Sen, người được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1998, cho rằng “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng”. Xét cho cùng sự tồn tại và phát triển của con người nói chung, người giàu, người nghèo nói riêng, cái khác nhau cơ bản để phân biệt họ chính là điều kiện sống hằng ngày, cơ hội lựa chọn của mỗi người trong cuộc sống, thông thường người TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 giàu có nhiều điều kiện lựa chọn cơ hội hơn, người nghèo. Đinh Phi Hổ (2006) cho rằng nghèo đói tương đối là tình trạng mà một người hoặc một hộ gia đình thuộc về một nhóm người trong xã hội có thu nhập thấp nhất xét theo không gian và thời gian nhất định. Như vậy, nghèo đói tương đối được xác định trong mối tương quan xã hội về tình trạng thu nhập của một nhóm người.
Ở bất kỳ xã hội nào, luôn luôn tồn tại nhóm người có thu nhập thấp và thu nhập cao trong xã hội, cũng theo khái nhiệm này dù xã hội có trình độ phát triển đến đâu, thì người nghèo đói tương đối sẽ luôn hiện diện trong bất cứ xã hội đó. Đói và nghèo thường có quan hệ chặt chẽ và đi đôi với nhau, nhưng mức độ khó khăn của nghèo và đói cũng khác nhau. Đói có mức độ gay gắt cao hơn, cần thiết phải xoá và có khả năng xoá. Còn nghèo, mức độ thấp hơn và khó xoá hơn, chỉ có thể xoá dần theo từng giai đoạn và cần có một lộ trình, chiến lược, chính sách hỗ trợ lâu dài của nghèo tuyệt đối, còn nghèo tương đối chỉ có thể giảm dần.
Vì vậy, để giải quyết vấn đề đói nghèo, ta phải xây dựng một chiến lược lâu dài có thể 20 năm đến 30 năm, và đánh giá, phân tích đưa ra các giải pháp, lộ trình đầu tư, giảm nghèo cho từng năm và đảm bảo giảm nghèo phải bền vững, không tái nghèo. Tiêu chí về đói nghèo Theo Quyết định số 09/2011/QĐTTg ngày 30/01/2011 về việc ban hành chuẩn nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 được áp dụng thực hiện trong đề tài cụ thể như sau. Khu vực nông thôn: Thu nhập bình quân tháng của hộ gia đình nghèo là 400.000 đồng/người/tháng trở xuống ở nông thôn và hộ có thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng là hộ cận nghèo. Khu vực thành thị: Thu nhập bình quân hàng tháng của hộ gia đình nghèo là 500.000 đồng/người/tháng trở xuống ở nông thôn và hộ có thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng là hộ cận nghèo.
Theo tiêu chuẩn quy định trên, nhiều hộ nghèo đã thoát nghèo nhưng không bền vững và tỷ lệ tái nghèo cao, vì chỉ cần trong gia đình hộ nghèo có sự cố nhỏ thì sẽ rơi vào nghèo, vì thu nhập của hộ thấp, không ổn định TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Dù có cách đánh giá các tiêu chuẩn về nghèo, nhưng vẫn còn một bộ phận dân chúng nghèo khổ ở Việt Nam hiện nay còn khá lớn. Và có nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan, chúng ta phải đánh giá toàn diện các nguyên nhân như kinh tế, văn hóa, xã hội của từng hộ gia đình thì mới có các giải pháp hỗ trợ hiệu quả. Nguyên nhân đói nghèo Nghèo không chỉ đơn giản là có mức thu nhập thấp mà còn thiếu thông tin tiếp cận các dịch vụ, như giáo dục-đào tạo, thị trường lao động, khả năng tiếp cận các dịch vụ, sức khỏe, y tế.Bên cạnh đó, hộ nghèo thường thiếu nguồn lực như vốn sản xuất, kiến thức, phương án sản xuất, đất sản xuất, công cụ lao động. trong đó thiếu khả năng và thông tin tiếp cận các nguồn tín dụng từ Ngân hàng để sản xuất kinh doanh là một sự cản lớn trong việc thoát nghèo.
Trương Thanh Vũ (2007): Nghiên cứu về nghèo đói ở vùng ven biển Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), cho thấy các nhân tố: trình độ học vấn của người lao động, số người lao động tạo ra thu nhập trong hộ, các công việc chính, giới tính của chủ hộ, diện tích đất sản xuất của hộ và cơ sở hạ tầng đến được trung tâm xã, ấp của hộ tác động đến nghèo đói của hộ. Nguyễn Trọng Hoài (2005): Tình trạng đói nghèo ở Đông Nam Bộ chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ các yếu tố: tình trạng thiếu việc làm ổn định, tình trạng sở hữu đất đai, diện tích đất, khả năng tiếp cận các nguồn vốn chính thức, vấn đề dân tộc thiểu số, qui mô hộ và giới tính của chủ hộ. Tổng quan về tín dụng 2. Khái niệm về tín dụng Tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể.
Như một công ty công nghiệp hoặc thương mại bán hàng trả góp cho một công ty khác, trong trường hợp này, người bán hàng chuyển giao hàng hóa cho bên mua và sau một thời gian nhất định, theo thỏa thuận, bên mua phải trả tiền cho bên bán. Phổ biến hơn cả là giao dịch giữa Ngân hàng và các tổ chức, cá nhân khi thực hiện giao dịch với nhau, tức là Ngân hàng cấp tiền vay cho bên đi vay và sau một thời gian nhất định người đi vay phải thanh toán vốn gốc và lãi (Lê Văn Tề, 2013). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Tín dụng còn được hiểu là sự bảo lãnh của bên thứ ba thường được gọi là tín dụng bằng chữ ký, như việc Ngân hàng mở thư tín dụng cho nhà xuất khẩu hưởng theo yêu cầu của nhà nhập khẩu. Tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên đi vay, cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp và các chủ thể khác, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn phải trả.
Số tiền phải trả thông thường phải lớn hơn số tiền lúc cho vay, hay nói cách khác là người đi vay phải trả thêm một phần tiền lãi ngoài tiền gốc. Để thực hiện nguyên tắc này phải xác định được lãi xuất thực hàng tháng (Lê Văn Tề 2013 ). Vai trò của tín dụng đối với hộ nghèo Các tổ chức tài chính nông thôn là các tổ chức cung cấp các sản phẩm tài chính, trong đó có tín dụng cho khu vực nông thôn, hướng đến đối tượng khách hàng là những người dân ở nông thôn, hộ nghèo. Mặc dù có sự đồng nhất trong cách hiểu của các nhà hoạt động, thực tế đối với tín dụng nông thôn và tín dụng vi mô do các tổ chức tài chính vi mô cung cấp nhưng hai tổ chức này là hoàn toàn tách biệt.
Tổ chức tài chính vi mô hoạt động trên quy mô rộng lớn hơn, bao gồm cả khu vực đô thị và nông thôn, hướng đến nhóm đối tượng khách hàng chủ yếu là người nghèo, giá trị số tiền vay nhỏ. Trong quá trình cung ứng các dịch vụ tài chính vi mô cho khách hàng, tổ chức này còn lồng ghép các hoạt động hỗ trợ như hình thành tổ, nhóm. Trong khi đó, các tổ chức tài chính nông thôn chỉ hoạt động tại khu vực nông thôn, cung cấp các sản phẩm tài chính cho đối tượng khách hàng mang tính đặc thù của khu vực này. Hiện nay, tổ chức tài chính tham gia cung cấp dịch vụ tín dụng cho khu vực nông thôn được chia thành 3 nhóm chính sau: chính thức, bán chính thức và phi chính thức.
Theo đó, khu vực chính thức được hiểu là những tổ chức hoạt động theo quy định và quản lý của ngân hàng Trung ương, được Chính phủ ủy quyền thực hiện các giao dịch tài chính. Khu vực bán chính thức mặc dù vẫn chịu sự quản lý của ngân hàng Trung ương và hệ thống ngân hàng, được các cơ quan này cấp phép hoạt động nhưng không TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.