CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Một số khái niệm 1. Sản xuất nông lâm nghiệp và hộ sản xuất nông lâm nghiệp a, Khái niệm và nội dung của sản xuất nông lâm nghiệp Nông lâm nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu, nguyên liệu lao động chủ yếu tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp.
Nông nghiệp là ngành sản xuất lớn bao gồm nhiều chuyên ngành: Trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản: Theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản. Mô hình, mô hình sản xuất nông lâm nghiệp Mô hình: Là sự đơn giản hóa thực tế để có thể phân tích các quá trình phức tạp. Mô hình sản xuất nông - lâm nghiệp : Là một tổ hợp các hoạt động kết hợp hài hòa trồng trọt các loại cây,cây lâm nghiệp với cây nông nghiệp hoặc với chăn nuôi tạo thành hệ thống nhất, đa dạng và ổn định cho hộ gia đình, trang trại hay cả cộng đồng. Lợi ích lớn nhất của hệ thống nông lâm nghiệp là tạo ra tương tác sinh học giữa các loại cây trồng phục vụ sản xuất với nhau hoặc với chăn nuôi.
b, Hộ nông lâm nghệp và sản xuất quy mô hộ nông lâm nghiệp Hộ nông lâm nghiệp vừa là một đơn vị sản xuất kinh tế, vừa là một đơn vị tiêu dùng và cũng là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn, vì tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn hầu hết được thực hiện qua sự hoạt động của hộ nông dân. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về hộ nông lâm nghiệp như sau: “Hộ nông lâm nghiệp là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn” ( Đào Thế Tuấn ,1997). Vậy, hộ nông lâm nghiệp là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề chính là nông nghiệp, lâm nghiệp nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông. Là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng.
Luan van 5 Ngoài nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương mại,.) ở các mức độ khác nhau. Sản xuất quy mô hộ nông lâm nghiệp: là hoạt động kinh tế tạo ra các sản phẩm từ nông nghiệp và ngày càng nâng cao cả về chất lượng và số lượng của sản phẩm được tạo ra. Từ việc phát triển đó mà người dân SXNN có thể mở rộng được quy mô kinh doanh, thu nhập được nâng cao, người nông dân dần có một cuộc sống đầy đủ, no ấm và sung túc hơn (Phạm Ngọc Linh và Nguyễn Thị Kim Dung, 2011) 1. Khái niệm về vốn Theo sự phát triển của lịch sử, các quan điểm về vốn xuất hiện và ngày càng hoàn thiện.Cho đến nay đã có nhiều khái niệm về vốn ở nhiều góc độ khác nhau.
Trước hết vốn bao gồm toàn bộ các nguồn lực kinh tế được đưa vào chu chuyển như: tiền, lao động, tài nguyên, vật tư, máy móc, thiết bị, ruộng đất, giá trị của những tài sản vô hình như: vị trí đất đai, công nghệ, quyền phát minh, sáng chế…. Vốn là một loại nhân tố “đầu vào” đồng thời bản thân nó cũng là kết quả “đầu ra” của hoạt động kinh tế. Ngoài ra, theo các nhà kinh tế học, vốn là một trong ba yếu tố đầu vào phục vụ cho sản xuất (lao động, đất đai, nguồn vốn), là yếu tố thứ ba của sản xuất được kết hợp để sản xuất hàng hóa dịch vụ. Các nhà kinh tế học thời Các – Mác cho rằng: Vốn là phạm trù kinh tế.
Ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng của thị trường, vốn đang là yếu tố hàng đầu tiên quyết và khan hiếm trên hầu như tất cả các quốc gia đang và kém phát triển. Tóm lại, có thể khẳng định rằng: “Vốn là khoản tiền được đưa ra trong quá trình sản xuất – kinh doanh dưới dạng những tài sản nhằm sinh lợi, góp phần đẩy mạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế” (Phạm Đình Vân và Đỗ Kim Chung, 1997). Khái niệm về tín dụng Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về tín dụng. Theo nguồn gốc từ La tinh cổ xưa thì tín dụng là "credese", có nghĩa là "tín nhiệm" hoặc "tin tưởng".
Qua nhiều thế kỷ, ý nghĩa của thuật ngữ này vẫn còn gần với bản gốc đó là “cho vay” hoặc "tín dụng" trong mối quan hệ vay mượn bắt nguồn từ sự vận động đơn phương của giá trị. Sự tách rời của quá trình vay và quá trình trả trên cơ sở tin tưởng, tín nhiệm Luan van 6 nên mối quan hệ vay mượn trở thành quan hệ tín dụng; trongmối quan hệ đó, người đi vay phải trả cho người cho vay một khoản phí vì đã sử dụng vốn vay theo nguyên tắc hạch toán kinh tế của thị trường. Nói cách khác, quá trình “vay” là quá trình đi thuê vốn; quá trình “trả” là quá trình hoàn trả vốn đã đi thuê. Do đó, sau một thời gian sử dụng vốn đi thuê, ngoài việc hoàn trả vốn gốc đã thuê, bên đi thuê vốn phải trả lãi cho bên cho thuê.
Bản chất của hoạt động tín dụng chính là phần lãi thu được, là giá trị tăng thêm mà bên đi thuê vốn phải trả cho bên cho thuê (Các- Mác, 1979). Tiền đề đầu tiên thường dựa vào các chủ nợ, cụ thể là kiến thức của người vay (hoặc danh tiếng của người vay), thứ hai thường được dựa trên sự hiểu biết của các chủ nợ về tình trạng tài chính của người vay, hoặc một bên đáng tin cậy. Theo Jonothan Golin: “Tín dụng là niềm tin hoặc kỳ vọng thực tế, khi đó người cho vay sẵn sàng cho vay và sẽ được hoàn trả đầy đủ theo quy định của thỏa thuận giữa bên cho vay và bên vay vốn và rủi ro tín dụng là khả năng có thể xảy ra”. Theo từ điển Wikipedia định nghĩa tín dụng là sự tin tưởng ở đó một tổ chức (người cho vay) cho tổ chức khác (người đi vay) vay tiền hoặc các nguồn vật dụng khác, trong đó người đi vay không nhất thiết phải hoàn trả ngay, thay thế bằng đó là khoản nợ, nhưng hứa phải hoàn trả lại vốn, hoặc các nguồn lợi khác trong thời gian nhất định.
Nói một cách khác, tín dụng được hình thành, được thừa nhận và phát triển rộng dãi.Nguồn cung cấp tín dụng bao gồm tài chính, vật dụng, trang thiết bị hoặc cả dịch vụ.Nguồn trả tín dụng cũng có nhiều hình thức, cung cấp tín dụng được hiểu là người cho vay, cho thuê và người cho mượn.Hiện nay hoạt động tín dụng ngân hàng là nguồn lớn nhất trong các tổ chức tín dụng. Hiểu hoạt động tín dụng gồm 2 phần: phần vốn và phần nợ khi hoàn trả cho người vay bằng tỷ lệ lãi suất tương ứng. Tín dụng biểu hiện mối quan hệ kinh tế xã hội gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng vốn nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu cho các quá trình sản xuất và đời sống theo nguyên tắc hoàn trả. Tín dụng là một “phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay".
Trong quan hệ này người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hóa cho người đi vay trong một thời gian Luan van 7 nhất định, khi tới thời hạn trả nợ người đi vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền hoặc giá trị hàng hóa đã vay kèm theo một khoản lãi” (Đào Văn Hùng, 2005). Từ những quan điểm trên, chúng ta thấy: Tín dụng chính là sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người khác, giá trị cho vay có thể dưới hình thức tiền tệ hay hình thái vật chất, sự chuyển giao được xác định có thời hạn nhất định và khi lượng giá trị được hoàn trả cho người chủ sở hữu phải kèm theo một lượng giá trị dôi thêm, gọi là lợi tức tín dụng. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng được cung ứng bởi các chủ thể cho vay khác nhau, với các tổ chức tín dụng được được cung cấp bởi các NHTM nhà nước, NHTM cổ phần, quỹ tín dụng, công ty tài chính được hiểu là tín dụng chính thức hay tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu tác giả chỉ đề cập đến tín dụng được cung ứng bởi ngân hàng Agribank.
Nguồn vốn tín dụng ngân hàng bị ảnh hưởng bởi các nhân tố: Diện tích đất, trình độ học vấn của chủ hộ, giá trị sản lượng, số lao động và số người còn phụ thuộc độ tuổi, giới tính, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với tín dụng phi chính thức hay còn gọi là các hình thức tín dụng khác được dùng ở đây với nghĩa tương đối, phản ảnh một thực trạng tài chính ở nông thôn nước ta hiện nay. Thuật ngữ tín dụng khác được dùng để chỉ những quan hệ tín dụng ngầm hoặc nửa công khai (nhiều trường hợp là công khai), ở đó có một hoặc một số hoặc tất cả các yếu tố vượt ra ngoài khuôn khổ của thể chế pháp lý hiện hành (mà yếu tố cơ bản nhất là lãi suất), như: vay nặng lãi, huê, hụi. Tuy nhiên, trong thực tế, nó cũng có thể bao gồm cả những quan hệ tín dụng trực tiếp giữa các cư dân nông thôn mà yếu tố lãi suất hoàn toàn bình thường, thậm chí thấp hơn so với lãi suất thị trường chính thức.
Những quan hệ này phát sinh trên cơ sở những quan hệ tình cảm (họ tộc, bạn bè) hoặc nhiều thứ quan hệ đa dạng khác. Với các hình thức tín dụng trên, thì tín dụng ngân hàng cũng khẳng định được vai trò của mình trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển và một nền kinh tế muốn phát triển lâu dài và bền vững thì hệ thống tín dụng ngân hàng phải hoạt động mạnh mẽ. Tín dụng ngân hàng là chủ thể cung cung vốn đặc biệt quan trọng, bởi các lý do sau: Ngân hàng là định chế tài chính trung gian lớn nhất trong nền kinh tế, mạng lưới rộng khắp. Ngân hàng đóng 2 vai trò trong nền kinh tế, vừa là người đi vay và Luan van 8 vừa là người cho vay, do đó ngân hàng có thể tận dụng nguồn vốn huy động được để cho vay và sinh lời từ nguồn tiền này.