CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE PHAN TÍCH ON ĐỊNH TƯỜNG VAY TRONG THI CONG HO DAO SAU 1.1 Đặc điểm hồ đào sâu Công tác dao sâu là loại công tác có giá thành cao, khối lượng công việc lớn, kỹ thuật phức tạp, vì ảnh hưởng lớn đến công trình xung quanh, sự cô hay xảy ra, là một khâu khó về mặt kỹ thuật, đồng thời cũng là trọng điểm dé hạ thấp giá thành và bảo đảm chất lượng công trình. Bài toán 6n định hỗ đào sâu đòi hỏi người kỹ sư thiết kế phải có kinh nghiệm trong việc phân tích và lựa chọn giải pháp tường chăn đủ cứng để chống lại sự phá hoại két cau, sự trượt, chuyên vi và sự phá hoại ôn định. Kết cau hỗ đào sâu thường được thi công trong vùng dân cư. Theo đà phát triển cải tạo các thành phố cũ, các công trình cao tầng, thường tập trung ở những khu đất nhỏ hẹp, mật độ xây dựng lớn, điều kiện thi công công trình ngầm đều rất khó khăn.
Lân cận công trình thường có các công trình xây dựng vĩnh cửu, các công trình lịch sử, nghệ thuật bắt buộc phải được an toàn, yêu câu đối với việc 6n định và khống chế chuyền dịch rất là nghiêm ngặt. Chuyến vị đất nền phải thấp hơn giới han cho phép dé tránh ảnh hưởng tới những kết cau lân cận. Chuyến vị của tường là yếu tố khó tiên đoán trước. Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thuộc tính địa chất, độ cứng của tường và hệ thanh chồng, trình tự thi công.
Đào ho móng cho các công trình tang hâm trong điêu kiện dat yêu, mực nước ngâm cao va các điêu kiện hiện trường phức tạp khác rat dê sinh ra mat ôn định hô đào, thân coc bị chuyên dịch vi trí, phình trôi đáy ho đào, két câu chăn giữ bị hư hại nghiêm trọng. lam hu hại hồ móng, ảnh hưởng nghiêm trọng đên các công trình xây dựng, các công trình ngầm và đường ông xung quanh. Công trình hô dao sâu bao gdm nhiều khâu có quan hệ chặt chẽ với nhau như chăn dat, chong giữ, ngăn nước, hạ mực nước ngâm, dao dat. trong đó, một khâu nào đó gặp sự cô có thê sẽ dân dén cả công trình bị do vỡ.
Công trình hô móng có giá thành khá cao, nhưng lại chỉ là có tính tạm thời nên có khuynh hướng không muốn dau tư chi phí nhiều. Nhưng nếu dé xảy ra sự cố thì xử 5 ly sẽ vô cùng khó khăn, gây ra ton thất lớn về kinh tế và ảnh hưởng nghiêm trọng về mặt xã hội.2 Khảo sát một số công trình hồ đào sâu trên thé giới và ở nước ta Việc sử dụng hố dao sâu đã được sử dụng ngày cảng nhiều và với quy mô ngày càng lớn. Tuy nhiên vẫn có một số sự cô đáng tiếc xảy ra, gây không ít thiệt hại về người và của như: bị sạt lở hồ dao, gây sụt lún, nút nẻ, thậm chí sụp đồ các công trình lân cận, các sự cố này chủ yếu do việc thiết kế thi công các công trình hồ đảo có tường chăn ít được quan tâm đúng mức. Trạm bơm nước thai Bangkok — Thai Lan có kích thước 20.3m đường kính (phan sập không tròn), sâu 20.2m, bị sập ngày 17 — 8 —19Ø7 khi vừa hoàn tat công tác đào va lắp đặt hệ thanh chống.
Kết cấu của công trình gdm hệ tường vây liên kết (diaphragm wall) giữ vai trò như tường chắn khi thi công đào sâu và giữ vai trò tường hầm sau khi đúc bê tông các bản sàn ham. Đặc biệt là công trình này có kích thước hoàn toàn giống một công trình tương tự đã thi công thành công ở Frankfurt - Đức. 1 - Toàn cảnh tram bơm Bangkok bị sập khi đào đất Ở nước ta, Công nghệ tường trong đất đã được Công Ty Bachy Soletanche thực hiện cho công trình nhà cao tầng SaiGon Centre ( 3 tầng hầm) từ năm 1994 đầu tiên ở Việt Nam. Sau đó là nhà cao tang Harbour View (2 tầng hầm ), San Woan (2 tầng ham), Vietcombank Ha Nội ( 2 tang ham), Số 7 Láng Hạ ( 2 tang hầm ).Va hiện nay thì nhiều Công ty Việt Nam dang sử dụng công nghệ tường trong đất dé xây dựng tang hâm khá phô biên và cũng đã có những sự cô mât ôn định xảy ra.
Cao ốc Pacific (số 43-45-47 Nguyễn Thị Minh Khai, Q.1) có quy mô 20 tang và 3 tang ham. Tháng 10-2007, trong khi thi công đào hầm công trình cao ốc nay đã làm sập tòa nhà trụ sở Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ và ảnh hưởng đến trụ sở của Sở Ngoại vụ gần đó. Nguyên nhân chủ yếu của sự cố nảy là chất lượng thi công tường tang ham không tốt. Lỗ thủng lớn ở tường tầng hầm có thé là do đồ bê tông không đúng quy trình và dùng Bentonite không đúng yêu câu gây sat lỡ đất ở hố đảo.
Đất cát sạt lỡ lẫn với Bentonite chèn vào bêtông làm cho bêtông bị rời xốp tạo nên lỗ thủng.4-ệcốngtườvâyahmcoốPaif 8 Nhận xét: 6n định của hệ tường vay phụ thuộc rất lớn vào 2 yếu tô là chất lượng thi công tường và bố trí hệ thanh chống tạm trong quá trình đảo nhằm đảo bảo chuyền vị tường năm trong giới hạn cho phép.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến 6n định chuyến vị ngang của tường vây trong hồ đào sâu Các nhân tô ảnh hưởng đến chuyền vị ngang của tường vây trong hỗ đào sâu được chia ra làm ba nhóm chính (Kung 2009) [1]: - Nhóm các nhân tổ cô hữu: + Nhân t6 địa chất: tính chất co lý của đất nền quyết định khả năng chịu lực và biến dạng của đất nên, lịch sử chịu lực của đất nền, mực nước ngâm. ` % Nhân t6 các công trình xung quanh, công trình hỗ dao sâu như các nhà cao tang xung quanh, các công trình giao thông và mat độ giao thông xung quanh cong trình. - Nhom các nhân tố liên quan đến van đề thiết kế: + D6 cứng của hệ thong chống đỡ bao gồm độ cứng của tường vây, độ cứng của hệ thống thanh chồng, chiều dài của tường vây. % Hình dang của hồ đào: chiều rộng, chiều sâu, dạng hình học của hồ đảo.
% Sự tạo ứng suất trước trong hệ thông thanh chống. + Sự cải thiện đất nên công trình như các biện pháp phut vữa, trộn vữa xi măng nhằm nâng cao khả năng chịu lực và giảm sự biến dạng của đất nên. - Nhóm các nhân tố liên quan đến vẫn dé thi công: % Các phương pháp thi công khác nhau như: Top-down, Semi Top-down, Bottom-Up. + Việc đào quá sâu dé thi công hệ thong thanh chống cũng ảnh hưởng đến chuyển vị ngang của tường vây.
% Các giai đoạn thi công trước đó như ảnh hưởng của việc đào hố móng thi công tường vây cũng ảnh hưởng đến chuyền vị tường. % Thời gian của các giai đoạn thi công: thời gian thi công ảnh hưởng khá lớn đến chuyền vị ngang của tường vây trong hồ đào sâu đặc biệt trong nên đất sét vì liên quan đến van dé cô kết và từ biến. % Tay nghề của đội công nhân thi công công trình. 9 Chang-Yu Ou (2006, pp.182-183) [2] cũng đã nêu lên những nhân t6 ảnh hưởng đến chuyền vị ngang của tường vây trong hồ dao sâu bao gồm: sự mat cân bằng lực, độ cứng của tường vây, hệ thông hỗ trợ và hệ số an toàn.Trong đó sự mất cân bang lực bao gém những nhân tố như: chiều sâu của hồ đảo, chiều rộng của hỗ dao và lực nén trước trong các thanh chống.
Hệ số an toàn đã được Clough và O’ Rourke (1990) [3] bàn dén trong nghién cứu, anh hưởng của nó đến chuyén vị ngang của tường vây trong hồ dao sâu, va đưa ra kết luận rang trong một hồ dao sâu điển hình thì chuyển vị ngang của tường tỷ lệ thuận với chiều rộng của hé dao sâu. Điều này được giải thích là khi chiều rộng của hồ đào càng lớn thì sự mất cân bằng lực càng chênh lệch do đó chuyển vị ngang của tường càng lớn. Hơn nữa, trong đất sét yếu khi chiều rộng của hố đào càng lớn thì hệ số an toàn chong trôi đáy càng giảm vì vậy chuyên vi ngang càng lớn. Trong mối liên hệ giữa chiều sâu hố đào với chuyển vị ngang của tường vây trong hồ đào sâu đã được Ou và các đồng sự (1993)[4] nghiên cứu thông qua phân tích các công trình hồ đảo sâu trong khu vực Đài Bắc.
Theo kết quả của nghiên cứu này thì chuyển vị ngang lớn nhất trong các tường vây hỗ đảo sâu khoảng từ 0.5% chiều sâu ho đào.15 T T T T T oO 012k ° a © - eS “4 oe mm JOL Oo E E Noe E © i UE © @ oO 0. 5 - Mối tương quan giữa chuyền vị ngang lớn nhất của tường vây với chiều sâu của hồ đào (Ou và các đồng sự, 1993) 10 Chang Yu Ou (2006, pp184-185) [2] đã đề cập đến mối liên hệ giữa chiều sâu ngàm chân tường vây H; đến chuyến vị ngang của tường vây. Tác giả đã tiến hành phân tích chuyển vị ngang của tường vây trong một hỗ đào sâu 20m bằng phương pháp phan tử hữu hạn. Khi sức kháng thông thường của đất nên là s„/ø¿ = 0.36, chiều sâu ngàm chân tường H,=20m va 15m thì chuyển vị ngang của tường tương tự nhau.
Khi giảm chiều sâu H;=l0m thì chuyển vị ngang của tường có thay đổi một ít nhưng tường vẫn đảm bảo 6n định. Khi H;= 4m thì tường bị hiện tượng đá chân (phá hoại) lúc đó chuyển vị ngang của tường tăng lên nhanh chóng. Trong trường hợp s„/ø; = 0.28 với trường hợp chiều sâu ngàm tường H;= 15m thi chuyền vị ngang của tường có lớn hơn nhưng không đáng kể so với trường hợp H;=20m và tường bị phá hoại khi H,=10m lúc đó chuyền vị ngang của tường tăng lên nhanh chóng. Do đó khi tường đã ở trạng thái 6n định thì chiều sâu ngam của chân tường ảnh hưởng không đáng kế đến chuyên vi ngang của tường.
Lateral wall deformatiom (cm) Lateral wall deformatiom (cm) l6 14 12 10 § 6 4 2 30 25 20 15 10 5 0 0 se 0 T T T T T j sk sL S„/ơ„› = 0. > A Ä 20 A 20L A : A 25 254% š IR 30 340 oO — 35Ƒ 35 STAGE7 E 40 4q L.