đặt vấn đề nghiên cứu, mục đích nghiên cứu, câu 4 hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu; Chương 2 trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết liên quan đến thu hút đầu tư vào khu công nghiệp, từ đó đúc kết khung phân tích cho nghiên cứu; Chương 3 trình bày kết quả nghiên cứu dựa trên khung phân tích đúc kết của Chương 2 và dữ liệu thu được nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu; và Chương 4 đi vào kết luận và đề xuất các giải pháp thu hút đầu tư vào khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre đến năm 2020. 5 Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KCN VÀ CÁC NHÂN TỐ THU HÚT ĐẦU TƯ VÀO KCN Chương này có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình thiết kế nghiên cứu, nó cung cấp nền tảng lý thuyết cũng như định hướng cho nghiên cứu. Đi vào nội dung Chương, tác giả đã tóm lược các kiến thức, các cơ sở lý thuyết liên quan đến thu hút đầu tư vào các KCN mà cộng đồng khoa học đã công bố trước đó. Nhờ đó, giúp tác giả chọn lọc được phương pháp nghiên cứu phù hợp với bối cảnh nghiên cứu, đi vào trọng tâm nghiên cứu, tránh tản mạn, lạc đề.
Như vậy, chương này cho phép tác giả xác lập được định hướng nghiên cứu, chọn lọc thông tin, dữ liệu cần thiết để xây dựng khung phân tích cho vấn đề nghiên cứu. Từ đây, tác giả đã nghiên cứu, tìm hiểu được các khái niệm và cơ sở lý thuyết liên quan như sau: 2. Khái niệm khu công nghiệp: Khái niệm về KCN đã được nhiều tác giả nghiên cứu trong nước đề cập đến. Trong luận văn này, tác giả đã tìm hiểu và kế thừa từ các nghiên cứu về khái niệm KCN của các tác giả khác nhau.
Theo tác giả Nguyễn Văn Trịnh (2006), với đề tài “Phát triển khu công nghiệp ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam”, KCN có nguồn gốc ban đầu là “cảng tự do” và được biết đến từ thế kỷ 16 như Legheon và Genoa ở Italia. Cảng này được thành lập với mục đích ủng hộ tự do thông thương hàng hoá từ nước ngoài vào và từ cảng đi ra, được vận chuyển một cách tự do mà không phải chịu thuế. Chỉ khi hàng hoá vào nội địa mới chịu thuế quan. Cảng tự do này đã đóng đóng vai trò quan trọng thúc đẩy nền ngoại thương của các nước, hình thành các đô thị, trung tâm thương mại, dịch vụ lớn sau này như New York, Singapore và dần dần khái niệm cảng tự do được mở rộng và vận dụng thành loại hình mới là KCN, KCX.
Theo tác giả Lê Tuân Dũng (2009), với đế tài “Hoàn thiện hoạch định chính sách đầu tư phát triển khu công nghiệp ở Việt nam giai đoạn hiện nay” cho rằng, do quá trình hình thành lâu dài mà quan niệm về KCN ở các nước có khác nhau, một số nước châu Á như Thái Lan, Philipin, Indonesia quan niệm KCN là một khu vực diện tích được phân chia và phát triển có hệ thống theo một kế hoạch tổng thể nhằm cung cấp địa điểm cho hoạt động của các xí nghiệp sản xuất công nghiệp với cơ sở hạ tầng và các dịch vụ hỗ trợ phát triển; trong KCN không có dân cư sinh sống. Trung Quốc 6 và một số nước Châu Ầu lại quan niệm KCN là một khu hành chính kinh tế, gồm các khu chức năng như hành chính, sản xuất công nghiệp, thương mại và dịch vụ, nhà ở dân cư. Nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển các KCN trên thế giới, tác giả Lưu Hữu Lễ (2010) với đề tài “Một số giải pháp phát triển các khu công nghiệp tỉnh Bến Tre đến năm 2020” cho biết, KCN đầu tiên trên thế giới được thành lập năm 1896 ở Trafford Park Thành phố Manchester (Anh) với tư cách là một DN tư nhân. Đến năm 1899 vùng công nghiệp Clearing ở thành phố Chicago, bang Illinois bắt đầu hoạt động và được coi là KCN đầu tiên của Mỹ.
Đến năm 1959 ở Mỹ đã có 452 vùng công nghiệp và 1.000 KCN tập trung, Pháp có 230 vùng công nghiệp, Anh có 55 KCN và Cannada có 21 vùng công nghiệp (1965). Cũng theo tác giả Lưu Hữu Lễ (2010), ở khu vực Châu Á, Singapore là quốc gia thành lập KCN đầu tiên vào năm 1951, đến năm 1954 Malaysia cũng chuẩn bị thành lập KCN và cho đến thập kỷ 90 đã có 12 KCN. Ấn Độ bắt đầu thành lập KCN từ năm 1955 và đến năm 1959 đã có 705 KCN. Đặc biệt một số nước trong khu vực này đã thành công rất lớn trong việc sử dụng các hình thức KCN, KCX, KCNC để phát triển kinh tế của quốc gia.
Điển hình là KCNC ở Tân Trúc – Đài Loan, được xây dựng năm 1980 với diện tích xây dựng 650 ha trên tổng diện tích quy hoạch 2.100ha, với tổng số vốn đầu năm 1995 lên tới 7 tỷ USD, sau 15 năm hoạt động tổng doanh số hàng hóa và dịch vụ đạt được 10,94 tỷ USD chiếm 3,6% GDP Đài Loan. Đến năm 1992, trên thế giới đã có 280 KCX được xây dựng ở 40 quốc gia, trong đó có khoảng 60 khu đã hoạt động mang lại hiệu quả cao. Cụ thể: tổng số người làm việc trong các KCX từ các nước đang phát triển đạt trên 500.000 người, tổng trị giá xuất khẩu các sản phẩm chế biến của các nước đang phát triển là 258 tỷ USD, chiếm khoảng 80% xuất khẩu của KCX, trong đó chủ yếu từ các nước Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan. Như vậy, thuật ngữ KCN được sử dụng rất phổ biến nhưng bản thân nó lại bao hàm nhiều loại hình với các mô hình tổ chức và tính chất hoạt động khác nhau.
Tùy điều kiện kinh tế xã hội, địa lý cũng như chính sách kinh tế của từng quốc gia, từng khu vực mà lựa chọn mô hình phù hợp với các loại hình khác nhau như: khu chế xuất (Export Processing Zones – EPZ); khu sản xuất hàng thay thế nhập khẩu (Import Processing Zone – IPZ); Khu công nghiệp (Industrial Processing Zones); Khu công nghệ cao (High – Tech Industrial Zones); Khu vực kinh tế tự do (Free Economic Zone 7 – FEZ);Khu mậu dịch tư do (Free Trade Zone – FTZ); Đặc khu kinh tế. Khu chế xuất (EPZ), đây là loại đặc khu kinh tế có diện tích tương đối nhỏ, có hàng rào phân cách về địa lý trong một quốc gia, không có dân cư sinh sống nhằm thu hút các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu. Khu chế xuất được hưởng nhiều ưu đãi; nhất là ưu đãi về thuế và thủ tục hải quan, song đòi hỏi phải xuất khẩu gần như toàn bộ sản phẩm. Khu sản xuất hàng thay thế nhập khẩu (IPZ), đây là hình thức áp dụng chủ yếu ở các nước Đông Á và Đông Nam Á nhằm phục vụ cho chiến lược CNH thay thế hàng nhập khẩu.
Tại khu vực này chủ yếu thu hút các ngành công nghiệp chế tạo, sản xuất các mặt hàng thay thế nhập khẩu và chế biến các nguyên liệu thô trong nước. KCN là hình thức tổng hợp của EPZ và IPZ đã nêu ở trên, các KCN này có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của các nước vì nó kích thích xu hướng sản xuất hướng ra xuất khẩu, vừa động viên phát triển sản xuất thay thế hàng nhập khẩu và chế biến nguyên liệu thô trong nước. Ngoài ra các nước phát triển còn phát triển mô hình khu công nghệ sinh học (Bio Technology Park) và KCN sinh thái (Eco Industrial Park). Ở Việt Nam, Luật đầu tư của Quốc hội năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2015) đã định nghĩa: KCN là khu có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp.
Như vậy, có thể hiểu một cách tổng quát, KCN là khu vực chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; được thành lập và hoạt động theo cơ chế, chính sách quản lý của Chỉnh phủ. Tùy theo mục tiêu thành lập, cách thức tổ chức, chế độ ưu đãi và tính chất hoạt động mà ngoài loại KCN thông thường còn có nhiều loại hình KCN khác như khu chế xuất (KCX) là KCN chỉ gồm các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ phục vụ sản xuất hàng hoá để xuất khẩu; khu công nghệ cao (KCNC) là KCN gắn với các hoạt động phát triển công nghệ cao. Mỗi loại có những nét đặc thù riêng và vai trò nhất định đối vói nền kinh tế, do đó Nhà nước cần có nhũng chính sách đầu tư phát triển riêng. Lý thuyết thu hút đầu tư Theo Kotler (2000), các địa phương đều muốn thu hút các nhà đầu tư vào địa phương mình bằng nhiều hình thức.
Trước hết họ chọn ra nhà đầu tư chiến lược có những đặc điểm, mối quan tâm và nhận thức chung. Kế đến, các nhà lập kế hoạch của 8 địa phương phải đo lường những nhận thức của nhà đầu tư chiến lược dựa theo các thuộc tính thích hợp. Các địa phương cho nhà đầu tư chiến lược thấy niềm tin vào sự phát triển trong tương lai của địa phương thông qua việc cung ứng các khoản vay hào phóng để thực hiện dự án đầu tư. Quan điểm của Kotler cho rằng các DN được thu hút về các địa phương cung cấp các dịch vụ chất lượng cao và ở đó “giá trị gia tăng” góp phần cải thiện năng suất và chất lượng.
Theo Akwetey (2002), chính phủ một số nước đã cung cấp một khuông khổ pháp lý tương đối đầy đủ để thực hiện các giao dịch trong xu thế tự do hoá thương mại, và đây là yếu tố quan trọng trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài thành lập các nhà máy công nghiệp hoá và tăng cường sản xuất hàng hoá để xuất khẩu. Từ hai lý thuyết trên cho thấy, các nhà đầu tư thường quyết định đầu tư vào nơi nào có sự quan tâm chung với nhà đầu tư, có triển vọng phát triển tốt trong tương lai, sẵn sàn cho vay để thực hiện dự án và có khả năng cung cấp các dịch vụ chất lượng cao. Lý Thuyết kinh tế tập trung vùng Theo Krugman (1998), hầu hết các hoạt động kinh tế có liên quan đến địa lý và thường có khuynh hướng tập trung lại với nhau. Người dân thường tập trung sinh sống tại các đô thị trung tâm.
Nhiều ngành công nghiệp và dịch vụ (ngân hàng) cũng tập trung về phương diện địa lý, các KCN tập trung chính là nơi cung cấp các sản phẩm chuyên môn hoá và thương mại quốc tế.