Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu trình bày: Tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa bài nghiên cứu. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây trình bày: Tổng quan biến động lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2000-2015, những lý thuyết cũng như bằng chứng thực nghiệm trong và ngoài nước về mối quan hệ của từng biến kinh tế vĩ mô tác động lên lạm phát. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu trình bày mô hình nghiên cứu, mô tả các biến và dữ liệu nghiên cứu. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu trình bày và phân tích kết quả nghiên cứu trong mô hình SVAR và TVP VAR.
- Chương 5: Kết luận. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Có nhiều lý thuyết giải thích về nguyên nhân gây ra lạm phát tuy nhiên hai lý thuyết chính thường được nhắc tới là: Lạm phát do cầu kéo và lạm phát do chi phí đẩy. Những nghiên cứu gần đây về lạm phát ở Việt Nam xoay quanh các nhân tố CPI, cung tiền, lãi suất, tỷ giá, sản lượng, giá dầu, giá gạo thế giới và hầu hết sử dụng mô hình VAR hoặc VECM. Trong bài nghiên cứu này tác giả đưa ra các nhóm nhân tố chính tác động đến lạm phát như sau: Giá dầu được xem là yếu tố bên ngoài đại diện cho những biến động của tình hình kinh tế thế giới, các yếu tố bên trong như triển vọng nền kinh tế đại diện bởi lỗ hổng sản lượng, chính sách tài khóa đại diện bởi thâm hụt ngân sách và chính sách tiền tệ đại diện bởi lãi suất tái cấp vốn.
Để giải thích tác động của các yếu tố này lên lạm phát, phần tiếp theo tác giả xin trình bày những lý thuyết cũng như bằng chứng thực nghiệm nghiên cứu trong và ngoài nước như sau: 2.1 Giá dầu thô thế giới Dựa vào lý thuyết tiếp cận lạm phát hiện đại theo quan điểm lý thuyết đo lường giá cả hàng hóa (Theory of Price Determination) cho thấy trong một nền kinh tế cạnh trạnh, giá cả hàng hóa được quyết định bởi cung và cầu, biến động trong giá cả hàng hóa cũng do sự biến đổi trong cung cầu. Sự biến động của các nhân tố cầu dẫn đến lạm phát được gọi là lạm phát do cầu kéo. Trong khi, sự biến động của các yếu tố cung dẫn đến lạm phát được gọi là lạm phát chi phí đẩy. Giá cả hàng hóa thế giới (giá dầu) là một nhân tố bên cung nên khi có một cú sốc từ giá cả hàng hóa thế giới sẽ tạo ra lạm phát chi phí đẩy vì đây vừa là mặt hàng tiêu dùng cuối cùng, vừa là mặt hàng trung gian cho quá trình sản xuất nên khi giá xăng dầu biến động sẽ tác động trực tiếp và gián tiếp đến nền kinh tế Việt Nam.
Tác động của biến động giá dầu tới lạm phát được thể hiện trong hình 2. Với AD: Tổng cầu; AS: Tổng cung, Y: sản lượng thực tế; Y* sản lượng tiềm năng, P: mức giá chung TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Lạm phát do chi phí đẩy (Nguồn: Phan Nữ Thanh Thủy và Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư, 2013. Kinh tế vĩ mô. In tái bản lần 3.
Hà Nội: Nhà xuất bản Thống kê) Giả sử sản lượng thực đạt sản lượng tiềm năng Y*, khi chi phí sản xuất tăng (giá dầu tăng) làm hạn chế khả năng sản xuất của các doanh nghiệp, đường cung bị đẩy sang trái. Việc giảm cung từ AS0 đến AS1, làm giá tăng từ P0 lên P1 và sản lượng giảm từ Y* xuống Y1. Theo các lý thuyết kinh tế học hiện đại, để đảm bảo cung cầu của bất kỳ một loại hàng hóa nào đó kể cả năng lượng, hầu hết các quốc gia đều thông qua hoạt động của thị trường. Tuy nhiên, thị trường năng lượng dầu khí trên thế giới thường có những vấn đề chính trị, độc quyền, luôn có sự can thiệp của chính phủ của các nước trên thế giới.
Ngoài ra dầu khí là nguồn năng lượng quan trọng, là đầu vào không thể thiếu của các hoạt động kinh tế, nên vấn đề định giá bán, trợ cấp và thuế đánh vào xăng dầu luôn là mối quan tâm của hầu hết chính phủ các quốc gia. Do đó khi giá dầu thế giới biến động sẽ ảnh hưởng đến các biến số vĩ mô khác. Giá dầu thế giới tăng cao, ảnh hưởng đến chi phí sản xuất trong nước, ảnh hưởng đến mặt bằng giá chung và sẽ tạo ra lạm phát, ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, làm cho thị trường bị gián đoạn. Những nghiên cứu thấy rằng những cú sốc giá dầu đã TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 ảnh hưởng đến sản lượng và lạm phát (Hamilton, 2004; Hooker, 2002).
Ngoài ra, giá dầu tăng làm tăng chi phí sản xuất đầu vào đưa đến giá hàng hóa và dịch vụ hàng hóa tăng. Một số nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa giá dầu và lạm phát. Mohanty và Klau (2001), nghiên cứu các yếu tố đo lường lạm phát ở các nền kinh tế thị trường mới nổi (EME), sử dụng dữ liệu của 14 thị trường mới nổi từ năm 1980 đến 1990 cho thấy: sự ảnh hưởng của giá dầu lên đo lường lạm phát dường như khác nhau giữa các nước. Sự khác nhau này có thể liên quan đến phản ứng khác nhau với các cú sốc giá dầu, đặc biệt liên quan đến chính sách tiền tệ hoặc sự cứng nhắc trong việc điều chỉnh giá xăng dầu trong nước so với thế giới.
Và cuối cùng, bài nghiên cứu cho thấy lỗ hổng sản lượng là nhân tố đo lường lạm phát có ý nghĩa thống kê ở hầu hết tất cả các quốc gia trọng mẫu. Bên cạnh đó, yếu tố cung, bao gồm cả những thay đổi lớn trong các yếu tố bên ngoài đất nước và những cú sốc nông nghiệp là những yếu tố chính gây ra lạm phát, trong khi các yếu tố nhu cầu truyền thống mặc dù có nghĩa thống kê, nhưng sự tác động của nó lên lạm phát là tương đối yếu. Camen (2006) sử dụng một mô hình VAR với số liệu tháng trong giai đoạn từ 2-1996 đến 4-2005 phát hiện rằng: (i) tín dụng chiếm 25% nguyên nhân gây CPI biến động và là nhân tố chính gây ảnh hưởng đến lạm phát sau 24 tháng; (ii) tổng phương tiện thanh toán và lãi suất chỉ giải thích một phần rất nhỏ trong biến động của CPI (dưới 5%); (iii) giá dầu và giá gạo quốc tế đóng vai trò quan trọng và gợi ý rằng giá quốc tế, tỷ giá cũng có vai trò giải thích biến động của lạm phát (19%); (iv) cung tiền của Mỹ (M3) với tư cách là một thước đo tính thanh khoản quốc tế cũng đóng vai trò quan trọng trong hầu hết các giai đoạn nghiên cứu. Blanchard, Gali (2007): Để giải thích sự khác biệt biến động giá dầu trong nền kinh tế giữa năm 1970 và năm 2000, tác giả sử dụng mô hình Var cấu trúc với dữ liệu ở các nước công nghiệp (Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Ý và Nhật Bản) với 6 biến đo lường gồm giá dầu, chỉ số lạm phát CPI, chỉ số lạm phát GDP, tiền lương, log sự TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 thay đổi trong GDP và việc làm.
Tập trung vào những tác động khác nhau của biến động giá dầu vào lạm phát và hoạt động kinh tế theo thời gian. Tác giả đưa ra 4 giả thiết tác động đến biến động giá dầu: sự thay đổi tự nhiên của giá dầu, thành phần dầu chiếm tỷ lệ nhỏ trong sản xuất, thị trường lao động biến động linh hoạt, đổi mới của chính sách tiền tệ và cả bốn giả thiết đều đóng một vai trò quan trọng. Kết quả của bài nghiên cứu chỉ ra có biến động ngược vào những năm 1970, giá dầu chỉ giải thích một phần trong lạm phát đình đốn. Tác động của biến động giá dầu thì sụt giảm theo thời gian.
Theo bài nghiên cứu “Lạm phát ở các nước đang phát triển ở Châu Á: Cầu kéo hay chi phí đẩy ?” của Juthathip Jongwanich và Donghyun Park, 9/2008 thuộc bộ phận nghiên cứu Ngân Hàng Phát Triển Châu Á tìm hiểu về nguồn gốc của lạm phát của khu vực cũng như mức độ dẫn truyền của cú sốc giá dầu, giá lương thực năm 2008 vào lạm phát tiêu dùng ở chín nước Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thailand, Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc và Ấn Độ đã tìm thấy những kết quả chính sau: - Lạm phát ở các nước Châu Á đang phát triển chủ yếu có nguyên nhân từ yếu tố cầu kéo, cụ thể là sự dư thừa của tổng cầu và kỳ vọng lạm phát. Các cú sốc ngoại sinh như giá dầu và giá lương thực chỉ giải thích khoảng 30% lạm phát giá tiêu dùng của khu vực này. Qua đó cho thấy rằng, lạm phát của khu vực này không hoàn toàn là do các nhân tố ngoại sinh nằm ngoài tầm kiểm soát của các cơ quan tiền tệ và vì vậy chính sách tiền tệ vẫn là một công cụ mạnh trong cuộc chiến chống lạm phát ở các nước này. - Sự truyền dẫn của các cú sốc giá dầu và giá lương thực đối với lạm phát giá sản xuất lớn hơn đáng kể lạm phát giá tiêu dùng.
Sự giá tăng giá dầu và giá lương thực giải thích khoảng hơn 50% lạm phát giá sản xuất trong khi đối với giá tiêu dùng con số này chỉ dùng lại ở mức khiêm tốn là 30%. Cũng đi sâu vào nghiên cứu đề tài về tầm ảnh hưởng của việc tăng lên đột biến trong giá dầu và giá lương thực trong năm 2008 đến lạm phát, Nobuledo TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Duma, trong bài nghiên cứu “Sự dẫn truyền của cú sốc ngoại sinh đến lạm phát ở Sri Lanka” tháng 3/2008, tác giả tìm thấy rằng có một sự dẫn truyền không hoàn toàn từ các cú sốc ngoại sinh, cụ thể cú sốc giá dầu và giá lương thực vào lạm phát ở Sri Lanka. Hàm phản ứng đẩy và phân tích phương sai từ mô hình VAR đệ quy cho thấy rằng, mức độ dẫn truyền vào giá tiêu dùng tăng từ 10% trong kỳ thứ nhất của cú sốc đến 40% trong tháng kỳ thứ 6. Đồng thời kết quả nghiên cứu của ông cũng tìm thấy có một sự truyền dẫn cao hơn vào lạm phát chỉ số giá bán buôn hơn là sự dẫn truyền vào lạm phát giá tiêu dùng ở Sri Lanka.
Một nghiên cứu của Võ Văn Minh (2009) về mức chuyển tỷ giá vào lạm phát trong giai đoạn (1-2001 đến 2-2007).